Đối với trẻ sơ sinh
Dùng kháng sinh (KS) cho trẻ sơ sinh cần lưu ý đặc biệt vì những lý do sau:
- Khả năng miễn dịch chưa hoàn chỉnh làm nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh nặng hơn trẻ khác, đe doạ lớn đến tính mạng trẻ, tạo nên những bệnh cảnh lâm sàng không điển hình và các vi khuẩn gây bệnh cũng khác biệt.
- Sự chưa hoàn chỉnh về cấu tạo và chức năng của gan, thận, ruột đòi hỏi liều lượng, đường dùng và nhịp điệu dùng thuốc trong ngày khác nhau theo ngày tuổi, đồng thời cũng là nguyên nhân của một số không chỉ định đặc biệt (chẳng hạn như cloramphenicol, sulfamid).
Khi mới sinh, chức năng đào thải KS của gan và thận chưa hoàn chỉnh. Trước tuần thứ 34 của thời kỳ bào thai, thận chưa phát triển xong. Sự hoàn chỉnh chức năng thận cần một thời gian dài. Sau khi sinh, do hiện tượng co mạch thận, độ thanh thải creatinin rất thấp những tăng lên rất nhanh trong tuần lễ đầu rồi sau đó lại tăng chậm dần và chỉ hoàn chỉnh như người lớn ở độ tuổi 3 tháng. Sự trưởng thành chức năng của gan tuỳ theo từng men. Khả năng liên hợp chỉ hoàn chỉnh ở độ tuổi 1 tháng giải thích nguyên nhân vàng da sinh lý và "hội chứng xanh xám" do cloramphenicol. Cytochrom P 450 chỉ trưởng thành sau 1 tuần nên có hiện tượng tích luỹ một số thuốc dùng trước thời kỳ này như metronidazol.
Những thông số cần lưu ý khi dùng KS cho trẻ sơ sinh là: tuổi thai, tuổi sau sinh, cân nặng, tình trạng bệnh lý, nhất là nếu có suy hô hấp, vàng da.
Hai nhóm KS dùng phổ biến ở tuổi này là β-lactam và aminosid. Với các β-lactam, loại trừ trường hợp quá liều lớn, không có hiện tượng độc liên quan tới liều nên không cần đo nồng độ. Mặt khác, trong những trường hợp cần thiết (viêm màng não, tình trạng nhiễm khuẩn nặng, vi khuẩn gây bệnh có nồng độ ức chế tối thiểu cao) có thể tăng liều.
Ngược lại, các aminosid có giới hạn điều trị an toàn thấp (liều điều trị và liều độc gần nhau). Thương tổn do các thuốc này có lẽ do đỉnh nồng độ (pic), còn độc thận chủ yếu gây nên do nồng độ tồn dư. Trong cả hai trường hợp, yếu tố thời gian điều trị kéo dài đóng vai trò quan trọng nhất. Các liều lượng trong dược điển thường không tính đến tác dụng hậu KS rất lớn của các thuốc nhóm này. Khoảng thời gian giữa hai liều KS có thêm nới rộng cho mọi lứa tuổi. Hai cách tốt nhất để giảm mức độ độc của các aminosid là rút ngắn thời gian điều trị (các thuốc này chỉ cần thiết trong vài ngày đầu để có sự hợp đồng và diệt khuẩn tối đa) và theo dõi sát nồng độ huyết thanh qua định lượng để điều chỉnh liều dựa theo nồng độ tồn dư.
Các thuốc thuộc nhóm quinolon chống chỉ định ở trẻ sơ sinh, nhất là nếu có toan máu, tăng áp lực nội sọ hoặc đang điều trị vàng da bằng ánh sáng. Tuy vậy, trong những trường hợp nguy kịch (chủ yếu là trong viêm màng não mà vi khuẩn gây bệnh kháng với các thuốc khác (trực khuẩn mủ xanh, enterobacter, tụ cầu kháng methicillin... ), các thuốc này có thể dùng trên cơ sở cân nhắc giữa lợi và hại. Đặc tính dược học của các thuốc này chưa được nghiên cứu trên trẻ sơ sinh. Khi dùng chúng, cần kiểm soát mức cân bằng kiềm - toan, chức năng gan, và đo nồng độ nếu có thể. Đối với ciplofoxacin, khi đổi đường tiêm tĩnh mạch thành đường uống cần tăng liều lượng (gấp 2 lần).
Trong thời kỳ mẹ mang thai và cho con bú.
- Thời kỳ mẹ còn mang thai
Nhiều yếu tố tác động đến việc KS qua rau thai: khả năng tan trong mô, sự ion hoá, kích thước phân tử và khả năng gắn của KS vào các protein, thời gian thai nghén, tình trạng huyết động của rau thai và thai.
Tất cả các thuốc đều qua rau sang bào thai, thậm chí một số thuốc có thể có cùng nồng độ ở mẹ và bào thai. Do vậy, trong khi mang thai, người mẹ cần tránh hết sức mọi thứ thuốc nếu điều kiện cho phép. Bảng 2 tóm lược những KS cho phép hoặc chống chỉ định dùng trong thời kỳ thai nghén. Bảng 2 trình bày tỷ lệ nồng độ một số KS thông dụng trong huyết thanh mẹ và bào thai. Những KS xếp trong mục "dùng một cách thận trọng" chỉ được dùng trong những trường hợp nhiễm khuẩn nặng và không thể thay được bằng thuốc khác.
- Thời kỳ mẹ cho con bú
Nồng độ KS trong sữa mẹ còn chưa được thông tin rõ ràng. Nhìn chung, KS qua sữa mẹ với nồng độ thấp nên sang cơ thể trẻ không nhiều. Tuy vậy, thuốc nào mẹ dùng cũng có thể gây rối loạn sinh thái vi khuẩn và gây phản ứng dị ứng cho con nên cần tránh nếu được. Khi mẹ dùng KS vẫn được phép cho con bú trừ trường hợp dùng các thuốc sau: metronidazol, nhóm quinolon, nhóm phenicol, nhóm sulfamid và nitrofurantoin.
Bảng 1: Kháng sinh và thai nghén
| KS cho phép dùng | KS chống chỉ định | KS dùng hết sức thận trọng |
| Amoxicillin | Chloramphenicol | Các aminosid |
| Azteonam* | Erythromycin estolat | Augmentin |
| Các cephalosporin* | Các quinolon | Clindamycin |
| Colistin | Các tetracyclin | Các thuốc nhóm Imidazol |
| Fosfomycin | Bactrim | Imipenem |
| Các macrolid | Spectinomycin | Nhóm Nitrofurantoin |
| Các penicillin | Rifampicin Claventin | |
| Các thuốc chống lao | ||
| Ethambutol | ||
| Các thuốc chống virus | ||
| Amantadin | Aciclovir | |
* Không có đặc tính gây quái thai hoặc độc cho bào thai qua thí nghiệm trên súc vật.
Bảng 2: Tỷ lệ nồng độ một số kháng sinh trong máu bào thai và máu mẹ
| > 50% | 50% | <20% |
| Penicillin G | Các aminosid * | Các cephalosporin |
| Amoxicillin | Amphotericin B* | Oxacillin |
| Ampicillin | Clindamycin* | |
| Ticarcillin | Erythromycin | |
| Methicillin | ||
| Nitrofurantoin * |
* Dùng hết sức thận trọng
Ở những bệnh nhi có bệnh lý gan hoặc thận mạn tính
Khi dùng KS cho những bệnh nhi có bệnh gan và đặc biệt là bệnh thận mạn tính, cần lưu ý đến dược động học của các thuốc tại các cơ quan này. Những KS bình thường được bài tiết dưới dạng hoạt tính hoặc đào thải theo con đường gan hoặc thận (đại đa số các hoá chất nói chung và các KS nói riêng) có thể có nồng độ trong máu cực kỳ cao đến mức độc với cơ thể trẻ dù dùng liều thông thường nếu trẻ có bệnh gan hoặc thận mạn tính.