ND - Thời gian gần đây, việc đưa một số hoạt động nghệ thuật đương đại vào lễ hội truyền thống ở Lảnh Giang (Duy Tiên, Hà Nam) đã thu hút sự chú ý của dư luận xã hội và có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng sự kiện này là biểu hiện của xu hướng đi tìm sự thích nghi mới trong cách thức tổ chức lễ hội ở thời hiện đại. Bài viết của GS, TS Ngô Ðức Thịnh - Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa Quốc gia, đã đề cập vấn đề này.
Sự kết hợp, đan xen giữa các yếu tố truyền thống và đương đại (thường là hiện đại) trong văn hóa là điều đang và sẽ diễn ra ở mọi dân tộc, mọi thời đại. Tất nhiên, sự kết hợp, đan xen này càng trở nên bức thiết hơn trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang có sự chuyển biến mang tính bước ngoặt từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hóa. Sự kết hợp đó có thể do nhu cầu tự phát của chủ thể văn hóa, cũng có thể là do các nghệ sĩ chuyên nghiệp đã nhận thức được nhu cầu mà chủ động tác động, thúc đẩy. Cách tân truyền thống, dù đó là quá trình tự phát hay tự giác thì cũng đều là cách để cái truyền thống tìm đường đi vào đời sống xã hội đương đại, là cách để văn hóa tự khẳng định tính thống nhất của nó trong trường kỳ lịch sử dân tộc. Sự kết hợp, đan xen này cũng có thể diễn ra theo cách người ta lựa chọn các nhân tố truyền thống rồi cách tân, hiện đại hóa chúng trong tổng thể văn hóa đương đại, giống như chọn những nét nhạc, lời ca, điệu múa dân gian rồi từ đó "phóng tác" theo cách hiện đại. Cũng có thể đưa một số yếu tố đương đại vào để làm "mới" văn hóa truyền thống, như đưa kỹ thuật hiện đại, cách trình diễn hiện đại để "làm mới" quan họ, hát chèo, hát văn, lễ hội...
Thực tế cho thấy hai cách làm trên có một số trường hợp thành công, nhưng không thiếu những thử nghiệm thất bại. Những thực nghiệm đưa nghệ thuật đương đại (body art, video art...) vào lễ hội truyền thống ở đền Lảnh Giang vừa qua là một cuộc thử nghiệm điển hình. Vậy từ thực tế đó cũng như các thử nghiệm khác, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm gì đối với việc đưa các yếu tố của văn hóa - nghệ thuật đương đại vào để nâng cao, làm mới văn hóa truyền thống?
Trước hết về phương pháp luận, đưa cái hiện đại vào văn hóa truyền thống, tức là đưa các yếu tố mới vào một cấu trúc cũ, yêu cầu làm sao yếu tố mới đó hòa nhập, liên kết hữu cơ với cấu trúc truyền thống, từ đó nâng cao truyền thống, không làm biến chất truyền thống. Các sinh hoạt nghi lễ và lễ hội truyền thống thường thể hiện những đặc trưng cơ bản và tuân theo các khuôn mẫu, mà khi ta có ý định cách tân thì phải nắm được. Theo tôi có ba đặc trưng cơ bản sau:
1. Nghi lễ và lễ hội truyền thống bao giờ cũng chứa đựng tính biểu trưng, biểu tượng cao. Nói cách khác, ngôn ngữ của nghi lễ, lễ hội là ngôn ngữ biểu trưng, biểu tượng. Thí dụ, để nói sức mạnh của Ông Gióng trước quân xâm lược, các cụ ngày xưa tạo ra diễn xướng ba trận đánh bằng cách ông Hiệu cờ của Ông Gióng (chứ không phải là Ông Gióng, và làm sao để thần linh xuất hiện dưới dạng phàm trần) vừa phất cờ vừa ba lần nhảy lên đá tung ba chiếc bát (tượng trưng cho núi đồi), úp trên ba cái chiếu (tượng trưng cho ba cánh đồng). Hay để nói tục tôn thờ mặt trời, các cụ bày ra tục đánh phết, vật cù, mà quả phết, quả cù được sơn đỏ, biểu trưng cho mặt trời, sự vận động của quả cù từ lỗ phía đông sang lỗ phía tây ở hai đầu sân là tượng trưng cho đường vận hành của vầng thái dương... Do tính biểu trưng và biểu tượng như vậy, nên nghi lễ và lễ hội bao giờ cũng mang tính thiêng, nó vượt lên trên thế giới trần tục (thậm chí có những cõi trần tục trong nghi lễ, lễ hội đó cũng được thiêng hóa). Chính tính thiêng, tính biểu trưng, biểu tượng của mỗi nghi lễ, lễ hội tạo nên bản sắc và giá trị của bản thân nghi lễ, lễ hội ấy.
Việc đưa các yếu tố hiện đại (body art, video art...) vào lễ hội lên đồng vừa qua đã phá vỡ toàn bộ tính biểu tượng, tính thiêng và bản sắc của nghi lễ và lễ hội. Họ đã "bắt" lễ hội này nói bằng ngôn ngữ cụ thể, trần tục, thậm chí còn là ngây ngô và vô nghĩa nữa! Việc vẽ lên người (body art) trong lễ hội Lảnh Giang, hay vẽ lên mình trâu những đường nét nào đó trong lễ tịch điền của huyện Duy Tiên vừa qua cũng đã góp phần giải thiêng lễ hội, điều này khác với việc người Khmer và Thái-lan trang trí cho con trâu hay con bò trong lễ tịch điền của Hoàng gia Cam-pu-chia hay Thái-lan vẫn làm.
2. Nghi lễ (cưới xin, tang ma...) và lễ hội của bất cứ dân tộc nào cũng đã trải qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm hình thành, biến đổi và thường nó định hình thành các "mô thức" khá chặt chẽ và ổn định. Ðưa các yếu tố mới vào quy trình nghi lễ và lễ hội phải hết sức chú ý đến tính ổn định của các mô thức đó. Trên thực tế, phục hồi và phát triển nghi lễ và lễ hội, không ít người, nhất là các "nghệ sĩ" chuyên nghiệp hay quan niệm xây dựng "kịch bản" lễ hội, rồi tùy tiện xếp đặt, làm đảo lộn các mô thức đã định hình ấy.
Từ cổ chí kim, chưa ai đưa nghi lễ hầu đồng lên sân khấu và lại là sân khấu ngoài trời nơi "đồng không mông quạnh", rồi xen ghép giữa lên đồng và rước đồng. Toàn bộ hành động sân khấu hóa đã phá vỡ mô thức hầu đồng, làm cho nó không còn gì là thiêng liêng, mà biến thành một thứ sân khấu "rẻ tiền". Trong lễ hội Kiếp Bạc thờ Ðức Thánh Trần tổ chức năm ngoái, việc xen ghép cuộc mít-tinh của tỉnh vào quy trình nghi lễ truyền thống đã làm đảo lộn toàn bộ mô thức dâng lễ vật lên Thánh của người dân, tạo nên sự lộn xộn, tranh nơi đặt lễ, khiến người dân đi lễ đã biến dàn quay phim vi-đê-ô dựng lên phục vụ cho cuộc mít-tinh thành nơi để mâm cúng bái vọng vào trong đền. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không được bổ sung các nghi thức hiện đại vào mô thức nghi lễ truyền thống, mà chỉ muốn nói, trong việc xen ghép đó, chúng ta phải có ý thức là không nên phá vỡ tính mô thức của nghi lễ.
3. Nghi lễ, lễ hội là hoạt động tín ngưỡng - văn hóa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, nhân dân là chủ thể của sinh hoạt nghi lễ và lễ hội. Ðiều đó có nghĩa là mọi sự bổ sung, "cải tiến" phải xuất phát trước hết từ nhu cầu của nhân dân với tư cách là người làm chủ. Tất nhiên, nhu cầu đó của nhân dân, các nghệ sĩ chuyên nghiệp thấu hiểu và góp phần thể hiện để đổi mới và làm phong phú hơn lễ hội là điều cần thiết. Thí dụ, vốn lễ hội Lệ Mật xưa không có màn trình diễn Giảo Long (chém rắn), mà vào những năm 70 - 80 của thế kỷ trước các nghệ sĩ múa chuyên nghiệp dựa vào huyền thoại chém rắn của ông Hoàng Lệ Mật cứu công chúa nhà Lý, đã xây dựng nên màn vũ đạo này, đã được nhân dân chấp nhận và kế thừa thành một bản sắc của lễ hội Lệ Mật ngày nay. Hết sức tránh cách làm áp đặt, xuất phát từ một ý tưởng nào đó, lợi ích nào đó, một ý thích ngông cuồng nào đó, rồi từ đấy mà "đổi mới", "hiện đại hóa" một cách tùy tiện. Ðổi mới, đương đại hóa lễ hội là để nâng cao vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân, chứ không phải là để làm mất vai trò sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa của nhân dân. Thử hỏi sau lễ hội Lảnh Giang, người dân ở đây được gì và mất gì? Có lẽ họ được sự hiếu kỳ tạm thời, còn họ mất đi tính chủ động và bản sắc của mình!
Nói tóm lại, đổi mới nghi lễ, lễ hội bằng cách đưa nghệ thuật đương đại vào lễ hội truyền thống là điều đáng khuyến khích, tuy nhiên việc đổi mới này làm sao phải bảo tồn và nâng cao được tính biểu tượng, biểu trưng, tính thiêng, vốn làm nên bản sắc của mỗi lễ hội, tôn trọng tính mô thức của diễn trình nghi lễ, lễ hội; đặc biệt là phải tôn trọng vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân. Ðổi mới lễ hội mà làm suy giảm, phá vỡ các đặc trưng của nghi lễ và lễ hội thì rất có thể sẽ chuốc lấy thất bại.
GS, TS NGÔ ÐỨC THỊNH