Ðưa điện lưới về thôn, buôn Tây Nguyên

Nhằm mục đích đưa điện lưới quốc gia về các thôn, buôn chưa có điện ở Tây Nguyên để thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt báo cáo đầu tư Chương trình cấp điện Tây Nguyên tại Công văn số 646/TTg-CN ngày 26-4-2006 với việc đầu tư Dự án thành phần cấp điện các thôn, buôn chưa có điện (CÐCTB) ở bốn tỉnh Tây Nguyên gồm Gia Lai, Kon Tum, Ðác Lắc và Ðác Nông.

Tổng mức đầu tư dự án là 1.121 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nước 85%, vốn của Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN) 15%. Dự án được EVN giao Tổng công ty Ðiện lực Miền Trung (EVNCPC) làm đại diện chủ đầu tư với nhiệm vụ đầu tư trên địa bàn 852 thôn, buôn, gồm xây dựng đường dây gồm 1.453 km đường dây (ÐD) trung áp, 1.338 km ÐD hạ áp; 803 trạm biến áp (TBA); làm đồng hồ đo điện, nhánh rẽ và mạng điện trong nhà cho 63.286 hộ dân.

Gói thầu đầu tiên được triển khai vào tháng 3-2008 và cuối năm 2009, dự án cơ bản hoàn thành. Chỉ riêng hạng mục cấp điện cho thôn Tân Bình, xã Ðác Kan, huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) do vướng rừng quốc gia Chư Mô Ray nên việc triển khai phức tạp, mãi đến cuối năm 2010, công trình mới được hoàn thành và đóng điện. Sau thời gian ngắn đưa vào sử dụng, dự án đã tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Cùng với việc phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, bưu điện, nước sạch, việc đưa điện lưới quốc gia đến từng hộ, góp phần phát huy chính sách định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Phần lớn bà con đã sử dụng các thiết bị điện như nồi cơm điện, tủ lạnh, quạt máy, ti-vi để theo dõi các chương trình, nhất là các chương trình phổ biến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi. Không những vậy, kể từ khi có điện, tại các xã vùng sâu, vùng xa đã có nhiều cơ sở thu mua, chế biến nông sản tại chỗ, tiêu thụ khá lớn lượng nông sản cho người dân, tránh việc bị tư thương ép giá.

Về thôn Mrông Ngó 3, xã Ia Ka, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Ðến thăm nhà già làng Rơ Chăm Jú, người dân tộc Gia Rai, chúng tôi được già làng và một số người dân trong thôn niềm nở đón tiếp. Thôn Mrông Ngó 3 là một trong những nơi nằm trong dự án CÐCTB. Từ ngày có điện đến nay, đời sống đồng bào đã thay đổi hẳn, đời sống vật chất và tinh thần từng bước được cải thiện. Nhà của già làng Rơ Chăm Jú được đầu tư nhánh rẽ vào tận nhà, được lắp miễn phí hai bóng đèn com-pắc, trong nhà đã có ti-vi, đầu đĩa, máy bơm, điện thoại... Trước đây, bà con thường phải đi "giọt nước" (bến nước của người Tây Nguyên dẫn nước từ suối về) lấy nước, nay nhờ có điện, nhà nào cũng đào giếng và lắp máy bơm tưới vườn. Ði dọc đường trong thôn, dễ nhận thấy có nhiều ăng-ten, chảo thu tín hiệu truyền hình. Già làng Rơ Chăm Jú bảo: "Ơn Ðảng, ơn Chính phủ, từ ngày có điện, cuộc sống của bà con trong thôn được cải thiện, nhà nào cũng sắm được ti-vi, theo dõi được nhiều chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước, tiếp thu được kiến thức khoa học, kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi!". Chủ tịch UBND xã Ia Ka Nguyễn Công Sơn cho chúng tôi biết: Từ khi có điện lưới, bà con tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Ðiển hình là trước đây, bà con vẫn trồng loại cà-phê mít, giống địa phương chịu hạn nhưng năng suất và chất lượng thấp. Nay chủ động được bơm tưới, bà con chuyển sang trồng cà-phê rô (robusta) năng suất cao. Ðời sống được cải thiện, số hộ nghèo cũng giảm nhanh. Ý thức được tầm quan trọng của hệ thống điện, già Rơ Chăm Jú tích cực vận động mọi người trong thôn, nhất là bảo ban các cháu cùng có trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn đường điện.

Tại Kon Tum, dự án CÐCTB đã hoàn thành vào cuối năm 2010 với tổng mức đầu tư gần 100,5 tỷ đồng, xây dựng 153,2 km ÐD trung áp, 88,7 km ÐD hạ áp, 94 TBA tổng dung lượng 3.423 KVA, cấp điện cho 97 thôn, làng với gần 4.000 hộ dân. Những địa bàn xa nhất của Kon Tum hôm nay đã bừng sáng ánh điện. Nhiều nhà máy, xí nghiệp đã mọc lên. Những cơ sở sản xuất, chế biến tinh bột sắn, mủ cao-su hoạt động nhộn nhịp, tiêu thụ nhiều sản phẩm cho nông dân. Nhà máy chế biến mủ cao-su Ngọc Hồi với công suất 4.500 tấn/năm tiêu thụ hết lượng mủ cao-su của các nông trường và bà con nông dân, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động. Phó Chủ tịch UBND xã Ðác Năng (TP Kon Tum) Võ Minh Quang vui vẻ nói: Nhờ có điện, tập quán sản xuất của đồng bào đã thay đổi: bà con sắm máy bơm để tưới cà-phê, cao-su, cải tạo vườn tạp, trồng thêm các loại rau ngắn ngày, phát triển chăn nuôi; từ trồng lúa rẫy, lúa tỉa hiệu quả kinh tế thấp sang trồng lúa nước, trồng cà-phê năng suất cao... Nhà anh A Si ở thôn Pleiwak 2, xã Ðác Năng, chuyên làm nghề ươm và trồng cây cao-su. Trước đây, vợ anh hằng ngày phải đi lấy nước nhiều lần ở gần suối Ðác Pren cách nhà hơn cây số. Nay có điện, nhà khoan giếng sâu 22 m, chủ động bơm tưới cây trồng, tăng diện tích trồng cao-su của nhà lên 3 ha, rồi trồng thêm sắn, lúa.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng phát sinh những khó khăn. Lẽ ra, theo kế hoạch, đến nay khi kết thúc dự án, không có hộ dân nào không được sử dụng điện lưới quốc gia, song do tập quán của đồng bào thường tách hộ, tách làng đi vào những vùng sâu bên trong khai hoang, sản xuất nên những hộ này chưa được sử dụng điện lưới. Cũng chính vì các hộ dân di chuyển, sinh sống tản mát, ở xa, địa hình phức tạp, gây khó khăn cho việc đưa điện tới từng hộ. Ngay cả ở những khu vực đã đưa điện được về những thôn, buôn, nhiều hộ dân đã đi nơi khác, nay lại quay trở về, xin dùng chung điện, dẫn đến quá tải cục bộ, nhất là thời điểm nhiều hộ cùng bơm tưới.

EVNCPC cho biết: Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương đã phê duyệt và giao Vụ Năng lượng là cơ  quan thường trực chỉ đạo việc lập dự án CÐCTB giai đoạn II, trong quý III-2011 trình Thủ tướng phê duyệt. Ðối tượng cấp điện trong đợt này, chủ yếu là các thôn, buôn nằm sâu trong rừng, giao thông đi lại quá khó khăn, giai đoạn I chưa thể đầu tư, và một số thôn, buôn mới thành lập do tập quán di cư để khai hoang, sản xuất của đồng bào. Rút kinh nghiệm từ giai đoạn I là thời gian từ khi khảo sát lập báo cáo chuẩn bị đầu tư đến khi triển khai thực hiện khá lâu, cho nên danh sách được chọn ban đầu so với nhu cầu thực tế có nhiều sự thay đổi. Hơn nữa, khi tiến hành khảo sát, tiêu chí lựa chọn các thôn, buôn đưa vào danh mục đầu tư của dự án cũng chưa rõ, còn có ý kiến khác nhau giữa cơ quan tư vấn và chính quyền địa phương trong việc hiểu thế nào là "thôn, buôn chưa có điện". Do vậy, để triển khai dự án giai đoạn II được thuận lợi, trước hết phải làm tốt công tác chuẩn bị ngay từ khâu đầu tiên. Ðơn vị được Bộ Công thương giao nhiệm vụ lập đề án cần phối hợp chặt chẽ với EVNCPC và các công ty điện lực, Sở Công thương các tỉnh rà soát danh mục đầu tư cụ thể để tránh các thiếu sót sau này.

Có thể bạn quan tâm