Dữ liệu không đơn thuần là thông tin, mà còn là tài nguyên chiến lược giúp nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ du lịch hiện đại. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ trở thành yêu cầu cấp thiết để phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2026, nước ta đón hơn 12,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 48,8% so với kế hoạch; đồng thời phục vụ khoảng 81 triệu lượt khách nội địa, tương đương 54% mục tiêu đề ra; tổng thu từ khách du lịch đạt 569 nghìn tỷ đồng, đạt 50,5% so với kế hoạch.
Những con số này cho thấy, du lịch Việt Nam có những bước tiến dài về quy mô thị trường và lượng khách. Tuy nhiên, nếu xét đến chỉ tiêu như thời gian lưu trú, mức chi tiêu bình quân và tỷ lệ khách quốc tế quay trở lại, du lịch nước ta vẫn hạn chế so với nhiều quốc gia trên thế giới. Thực trạng này đòi hỏi ngành du lịch phải có hệ thống dữ liệu thống nhất, chính xác để tối ưu hóa vận hành, vừa giúp kiểm soát sức chứa điểm đến, tránh nguy cơ phát triển “nóng”, vừa có cơ sở để ghi nhận những thay đổi trong hành vi du khách, từ đó điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, sức cạnh tranh điểm đến.
Trên thực tế, Việt Nam ghi nhận nguồn dữ liệu khá lớn được hình thành từ hoạt động xuất, nhập cảnh, hàng không, vận tải, lưu trú, thương mại điện tử, thanh toán, viễn thông… Song những dữ liệu này vẫn đang phân tán giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, chưa có sự kết nối, liên thông cho nên chưa thể phát huy hiệu quả khai thác.
Để giải quyết “điểm nghẽn” này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất xây dựng hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia theo mô hình “1+34+N”, nhằm đáp ứng yêu cầu dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Trong đó, “1” là nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia do Bộ giữ vai trò điều phối; “34” là dữ liệu của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và “N” là các bộ, ngành, doanh nghiệp, tổ chức liên quan cùng tham gia kết nối, làm giàu dữ liệu.
Với mô hình này, nền tảng dữ liệu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng, vận hành sẽ kết nối với dữ liệu của các địa phương trên cả nước và mở rộng liên thông với các bộ, ngành, cộng đồng doanh nghiệp để hình thành một mạng lưới dữ liệu xuyên suốt, cập nhật.
Theo Phó Cục trưởng Du lịch quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy, trong kỷ nguyên số, chuyển đổi số du lịch không chỉ là câu chuyện ứng dụng công nghệ, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện hoạt động quản lý, kinh doanh và trải nghiệm. Với cách tiếp cận này, hệ thống dữ liệu quốc gia về du lịch được xác định là hạ tầng số cốt lõi và là “xương sống” của toàn bộ hệ sinh thái du lịch thông minh.
Mô hình “1+34+N” hướng tới hình thành hồ sơ du khách số, từ đó nâng cao năng lực dự báo, điều hành và cá nhân hóa dịch vụ theo thời gian thực, giúp ngành du lịch xây dựng năng lực quản trị dựa trên dữ liệu thay vì ra quyết định cảm tính dựa trên kinh nghiệm. Theo kế hoạch, giai đoạn 2026-2027, mô hình tập trung kết nối các nguồn dữ liệu phân tán giữa bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để hình thành hệ thống dữ liệu lõi; từ năm 2027, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục hoàn thiện mô hình dùng chung, ban hành các tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu. Đây là hướng đi cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thời gian qua, để phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh, ngành du lịch Việt Nam đã từng bước nghiên cứu, xây dựng các nền tảng số dùng chung để kết nối cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, hướng dẫn viên, khách du lịch. Có thể kể đến hệ thống cơ sở dữ liệu du lịch; hệ thống báo cáo thống kê du lịch; nền tảng “Quản trị và Kinh doanh du lịch”; Dashboard thông tin điều hành du lịch (nền tảng số tổng hợp trực quan dữ liệu kinh doanh, tình trạng đặt dịch vụ và báo cáo tài chính); Ứng dụng du lịch quốc gia “Du lịch Việt Nam-Vietnam Travel”; Thẻ Việt-Thẻ du lịch quốc gia; hệ thống vé điện tử “trực tuyếnliên thông-đa phương thức”; hệ thống thuyết minh đa phương tiện… Theo ông Hoàng Quốc Hòa, Giám đốc Trung tâm Thông tin du lịch, việc triển khai áp dụng các nền tảng số dùng chung do Cục Du lịch quốc gia Việt Nam phát triển sẽ giúp các địa phương, doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đầu tư, đào tạo; đồng thời kết nối liên thông các dữ liệu, khắc phục tình trạng manh mún, tạo sự nhất quán, thuận lợi trong quản lý, kinh doanh cũng như cải thiện trải nghiệm cho du khách.
Phó Cục trưởng Phạm Văn Thủy nhấn mạnh, điểm quan trọng ở đây chính là tính thống nhất và dùng chung. Nếu mỗi địa phương làm một hệ thống riêng lẻ, không kết nối sẽ gây lãng phí nguồn lực và không tạo được sức mạnh tổng thể.
Do đó, quan điểm của Cục Du lịch quốc gia Việt Nam là: Trung ương xây dựng nền tảng, địa phương triển khai, doanh nghiệp khai thác, du khách hưởng lợi. Muốn phát huy hiệu quả chuyển đổi số trong hoạt động du lịch, giải pháp quan trọng là cần đổi mới công tác xúc tiến, quảng bá theo hướng số hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để cá nhân hóa thông điệp quảng bá phù hợp với từng thị trường mục tiêu; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, tập huấn chuyển đổi số cho địa phương và doanh nghiệp, ban hành tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ kết nối liên thông hệ thống thông tin quản lý du lịch giữa Trung ương và địa phương. Chuyển đổi số chỉ có thể thành công khi được xây dựng trên nền tảng nguồn nhân lực chất lượng cao với những con người biết chuyển hóa dữ liệu, công nghệ thành giá trị cho du khách, doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của ngành du lịch.