Hiện nay, đa dạng sinh học toàn cầu đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng và được coi là thời kỳ tuyệt chủng lần thứ sáu. Năm 2021, các nhà khoa học đã đánh giá tình trạng của khoảng 142.600 loài sinh vật trên thế giới, trong đó có khoảng hơn 40.000 loài bị đe dọa tuyệt chủng. Đến năm 2025, số lượng loài được đánh giá tăng lên hơn 172.600, trong đó hơn 48.600 loài được xếp hạng bị đe dọa tuyệt chủng.
Trong khi đó, các loài hoang dã của Việt Nam cũng đang phải đối mặt nhiều tác động tiêu cực như môi trường sống suy thoái, biến đổi khí hậu và việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên. Trong khi Danh lục Đỏ Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) được cập nhật thường xuyên thì Sách Đỏ Việt Nam vẫn đang sử dụng bản phát hành năm 2007. Các dữ liệu, thông tin trong Sách Đỏ chưa được cập nhật về vị trí phân loại, phân bố, tình trạng quần thể, các yếu tố ảnh hưởng sinh cảnh quần thể các loài sinh vật.
Trong bối cảnh đất nước ta đang hướng tới mục tiêu phát triển xanh và bền vững thì việc quản lý hiệu quả, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý là một trong những ưu tiên hàng đầu. Thực tiễn nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải cập nhật dữ liệu về các loài sinh vật ở Việt Nam một cách toàn diện và đồng bộ, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và sử dụng hiệu quả đa dạng sinh học.
Năm 2021, các nhà khoa học đã đánh giá tình trạng của khoảng 142.600 loài sinh vật trên thế giới, trong đó có khoảng hơn 40.000 loài bị đe dọa tuyệt chủng. Đến năm 2025, số lượng loài được đánh giá tăng lên hơn 172.600, trong đó hơn 48.600 loài được xếp hạng bị đe dọa tuyệt chủng.
Trong khuôn khổ đề tài cấp Viện Hàn lâm, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quảng Trường và các đồng nghiệp ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (nay là Viện Sinh học) đã thực hiện đề tài: “Cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu Danh lục Đỏ và Sách Đỏ Việt Nam” trong giai đoạn 2020- 2024. Các nhóm đã phát huy được trí tuệ tập thể của nhiều nhà khoa học, các chuyên gia đến từ các viện nghiên cứu trường đại học và tổ chức bảo tồn trên cả nước.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quảng Trường, so với phiên bản Sách Đỏ Việt Nam công bố năm 2007 với tổng số 836 loài bị đe dọa tuyệt chủng, phiên bản năm 2024 ghi nhận 1.398 loài sinh vật (gồm 742 loài động vật, 656 loài thực vật và nấm) bị đe dọa tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau. Sự gia tăng số loài hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng ở cả hai nhóm: Thực vật tăng 196 loài và động vật tăng 354 loài. Trong đó, 5 loài động vật được xác định là tuyệt chủng hoặc tuyệt chủng ngoài tự nhiên gồm: Rùa ba-ta-gua miền nam, hươu sao, gà lôi lam mào trắng, cá sấu hoa cà, tê giác một sừng.
Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là Cơ sở dữ liệu Danh lục Đỏ Việt Nam - hệ thống website cho phép tra cứu trực tuyến (tại địa chỉ http:// vnredlist.vast.vn). Cơ sở dữ liệu này hiện mới chỉ có bản tiếng Việt, tuy nhiên, hoàn toàn tương thích với cơ sở dữ liệu toàn cầu là Danh lục Đỏ IUCN.
Các nhà khoa học cho biết, khối lượng công việc của đề tài là rất lớn, với hồ sơ của hơn 1.500 loài sinh vật được rà soát, cập nhật và đánh giá lại sau một thời gian dài. Công tác phối hợp của hơn 18 nhóm nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực như: Thực vật, nấm, thú, chim, bò sát, lưỡng cư, cá, côn trùng, thủy sinh vật… đặt ra yêu cầu cao về công tác tổ chức, sự phối hợp chặt chẽ và phân công nhiệm vụ giữa các tổ chức và nhà khoa học tham gia.
So với phiên bản Sách Đỏ Việt Nam công bố năm 2007 với tổng số 836 loài bị đe dọa tuyệt chủng, phiên bản năm 2024 ghi nhận 1.398 loài sinh vật (gồm 742 loài động vật, 656 loài thực vật và nấm) bị đe dọa tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quảng Trường
Đề tài đã được nhóm tác giả nghiên cứu thành công xuất sắc trên cơ sở ba hợp phần với bốn nội dung. Trong đó hợp phần 1 là cập nhật cơ sở dữ liệu Danh lục Đỏ và biên soạn Sách Đỏ Việt Nam với các nội dung về chuẩn bị và xây dựng kế hoạch; cập nhật hồ sơ các loài bị đe dọa ở Việt Nam theo các nhóm loài; biên soạn Sách Đỏ Việt Nam. Hợp phần 2 là xây dựng cơ sở dữ liệu và website Danh lục Đỏ Việt Nam với nội dung xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống và website Danh lục Đỏ Việt Nam. Hợp phần 3 là biên tập và xuất bản Sách Đỏ Việt Nam.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Cảnh, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề tài, kết quả của đề tài đã cung cấp thông tin hữu ích để phục vụ công tác quản lý, bảo tồn các loài động vật, thực vật và nấm nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam. Ngoài ra, kết quả này còn là cơ sở khoa học để xây dựng hồ sơ các loài sinh vật đưa vào danh sách các loài nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Các nhà khoa học cũng công bố hai bài báo đăng trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCIE và ba bài báo thuộc danh mục SCImago. Sản phẩm chính là bộ Sách Đỏ Việt Nam phiên bản mới nhất, với tập 1 về động vật (742 loài), tập 2 về thực vật và nấm (656 loài).