Từ cuối năm 1946, cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Hồ Chí Minh). Sau chín năm kháng chiến gian khổ, tháng 5-1954, chúng ta đã có được một Điện Biên “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” (thơ Tố Hữu). Và tiếp đó, dân tộc ta lại bước vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, kéo dài hơn 20 năm (1954-1975). Hơn 20 năm đất nước thao thức, ngày bắc đêm nam, đánh trận trường kỳ vừa xây dựng CNXH ở miền bắc, vừa tiến hành đấu tranh giải phóng miền nam, thống nhất đất nước để có ngày toàn thắng 30-4-1975 “Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa” (thơ Tố Hữu).
Đây là một trong những giai đoạn lịch sử hào hùng nhất của dân tộc. Bên cạnh biết bao chiến công, kỳ tích lừng lẫy là rất nhiều mất mát, đau thương. Rất nhiều người con ưu tú của Tổ quốc đã ngã xuống. Thơ ca giai đoạn này không thể không đảm nhận vai trò đánh giặc. Theo cách bày tỏ của Chế Lan Viên, đó là: “Ta sống những năm viên đạn nặng hơn người/Nhiệm vụ thơ nặng hơn trang giấy…”. Đây là một cơ sở cho ta lý giải được phần nào vì sao thơ viết về sự mất mát hy sinh trong chiến tranh dẫu đau xót vẫn tràn đầy niềm lạc quan như thế.
Từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hoàng Lộc đã có bài Viếng bạn rất cảm động với những chi tiết cụ thể về sự hy sinh của đồng đội, trong nỗi đau không nhỏ: “Khóc anh không nước mắt/Mà lòng đau như thắt/Gọi anh chửa thành lời/Mà hàm răng dính chặt”; nhưng vượt lên nó là lòng căm thù ngùn ngụt cùng niềm tin sắt son vào chiến thắng: “Mai mốt bên cửa rừng/Anh có nghe súng nổ/Là chúng tôi đang cố/Tiêu diệt kẻ thù chung”.
Tây tiến của nhà thơ Quang Dũng thật sự là một trong những bài thơ ấn tượng thời kỳ này. Trong “đoàn binh không mọc tóc” ấy có nhiều người vốn là thanh niên, học sinh Hà Nội tình nguyện ra chiến trường, đêm còn mơ về những “dáng kiều thơm”. Có người đã ngã xuống nơi rừng thiêng nước độc, nhưng cái chết của họ vẫn không hề ảm đạm, u ám mà vút cao lên bản tráng ca lẫm liệt: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/Áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Nỗi đau nhưng đầy chất lạc quan cũng thể hiện đậm nét trong tác phẩm Núi Đôi rất nổi tiếng của Vũ Cao. Bài thơ là câu chuyện tình yêu tuyệt đẹp, trong sáng cùng nỗi đau mất mát quá lớn, khi cô gái du kích người yêu của anh bộ đội hy sinh: “Núi vẫn đôi mà anh mất em”…
Và, vầng sáng của sự giao hòa bất tử có được từ lòng lạc quan cách mạng: “Anh đi bộ đội, sao trên mũ/Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”. Bước sang giai đoạn chống đế quốc Mỹ, càng thấy rõ hơn tinh thần lạc quan trong những bài thơ viết về sự hy sinh. Trong Quê hương của Giang Nam, ta đọc được sự cao cả của những cái chết vì Tổ quốc: “Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”. Cái chết của cô gái mở đường trong bài thơ Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ cũng trở nên huyền ảo lạ kỳ: “Em nằm dưới đất sâu/Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng/Những vì sao ngời chói, lung linh”… Hy sinh cho đất nước trở thành hạnh phúc của người ra trận được nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cảm nhận rất rõ trong Nấm mộ và cây trầm. Sự hy sinh của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất năm 1968 được nâng lên thành hình tượng kỳ vĩ, thành dáng đứng của cả dân tộc như Lê Anh Xuân khắc tạc trong Dáng đứng Việt Nam: “Tên Anh đã thành tên đất nước/Ôi anh Giải phóng quân!/Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất/Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”…
Chiến tranh kết thúc và lùi xa, chúng ta có điều kiện nhìn nhận hiện thực đã qua một cách điềm tĩnh, toàn diện, sâu sắc hơn. Trong thơ ca, cùng tự hào, niềm vui chiến thắng và yêu cầu cổ vũ, động viên là rất nhiều nhớ thương, tưởng niệm, tri ân những người ngã xuống vì Tổ quốc. Nhiều bài thơ về liệt sĩ ra đời với niềm đau thương thăm thẳm, sự hồi tưởng day dứt khôn nguôi. Có thể kể đến các bài: Phan Thiết có anh tôi của Hữu Thỉnh, Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình của Dương Kỳ Anh, Viếng chồng của Trần Ninh Hồ, Gió đất của Lê Đình Cánh, Cô tôi của Nguyễn Văn Hiếu, Cánh rừng nhiều đom đóm bay của Nguyễn Đức Mậu, Cái roi ngày ấy của Đinh Phạm Thái, Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc của Vương Trọng, Đám cưới một linh hồn của Vũ Bình Lục,…
Các tác phẩm ấy theo dấu chân những đội quân đi tìm đồng đội, theo thân nhân liệt sĩ đến các nghĩa trang trong cả nước; cho người đọc cảm nhận được sự chân thực, xúc động sâu sắc, lớn lao qua nghệ thuật thơ hòa trộn giữa yếu tố thực và ảo, chất liệu đời thường quyện chặt tâm linh. Rất nhiều những thương tiếc, ngậm ngùi, thổn thức trong các tác phẩm viết về liệt sĩ. Bắt gặp ở đó, tâm trạng của tác giả với người thân đã ngã xuống trong Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình của Dương Kỳ Anh: “Trước gió bão cuộc đời trôi dạt/Giờ em nằm nơi đâu trong đất lành Tổ quốc/Anh đi tìm phần mộ em suốt mười mấy năm trời/Anh đi tìm nắm đất cuộc đời em. Chỉ gặp toàn kỷ niệm”… Một ngọn khói hương ngàn ngạt nơi nghĩa trang cũng làm trào dâng bao lớp sóng tiếc thương, tưởng chừng nghe được những thầm thì xao xác từ miền xa thẳm: “Khói hương như thể mây mù/Trắng trời lớp lớp lau gù đội tang/Xạc xào gió lá ngụy trang/Gió từ cõi đất gió sang cõi người!” (Gió đất - Lê Đình Cánh)…
Sự tri ân liệt sĩ thể hiện ở nhiều khía cạnh, trong đó phải kể tới các cuộc đi tìm đồng đội gian lao vất vả. Ở nhiều bài thơ, rung động từ trái tim người viết nhanh chóng truyền tới bạn đọc trong sự đồng cảm và chia sẻ vô cùng lắng đọng: “Xin cho đau nỗi đau rừng/Cánh cò trắng cả một vùng trời xa/Đón em về lại quê nhà/Với thầy mẹ, với ông bà tổ tiên”… (Đưa em về - Nguyễn Văn Hiếu). Tri ân còn thể hiện ở sự thấu hiểu những “tâm tư” của người nằm dưới mộ. Yếu tố tâm linh được đưa vào thơ rất hợp lý và giàu sức truyền cảm như trong bài thơ Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc của Vương Trọng: “Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều/Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu/Ngày bom vùi tóc tai bết đất/Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được/Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/Cho mọc dậy vài cây bồ kết/Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”…
Bên cạnh đó, còn có cả những bài thơ giai đoạn sau năm 1975, như: Gặp lại các em của Nguyễn Đình Chiến, Tôi đã gặp anh của Nguyễn Trọng Tạo, Những ngọn sóng tỏa hương của Trần Mai Hường, Tổ quốc đón anh về của Phan Vỹ… Anh linh những người lính ngã xuống nơi biên cương, biển đảo vẫn tỏa thơm giữa lòng đất nước: “Nơi các anh ngã xuống/Máu đã thắm san hô/Anh linh hòa sóng biếc/Cứ tỏa hương từng giờ” (thơ Trần Mai Hường)…
Với giá trị lớn về văn học và lịch sử, tin rằng dòng thơ tưởng niệm, tri ân sẽ mãi trường tồn cùng thời gian. Một cõi xa thăm thẳm nhưng cũng quá đỗi gần gũi, cõi bất tử hội tụ những linh hồn hy sinh vì Tổ quốc sẽ mãi trường tồn trong thơ, như niềm thương tiếc, biết ơn không bao giờ vơi cạn.