Ðồng Tháp Mười (ÐTM) bao đời là miền đất hoang sơ trải dài mênh mông. Ai đã từng ở ÐTM chắc thấu hiểu thứ đất phèn nồng độ a-xít cao, mùa khô nước lòng kênh trong như mắt mèo. Ðem áo trắng giặt nước này, lập tức áo đổi mầu vàng khè, không mấy bữa rách mủn. Còn ăn trầu nhổ bã xuống lòng kênh, nước trầu đỏ tươi bỗng trắng bạch như phản ứng trong phòng thí nghiệm. Nói như dân vùng Tam Nông, Ðồng Tháp "Ðến con tôm, con cá cũng phải nổ con mắt mà chết".
Nhiều nhà khoa học thế giới, gồm những chuyên gia về đất phèn nặng, sau khi nghiên cứu ÐTM và làm thử nghiệm đi đến kết luận "Thôi không tính chuyện trồng lúa", vì lẽ khử được phèn chỉ có vôi, mà vôi thì lấy đâu ra cho đủ? Giữa lúc tưởng chừng bó tay với cái "rốn phèn" mà nhiều chuyên gia nước ngoài "chào thua" thì các nhà khoa học Việt Nam từ kinh nghiệm kê đất, lên líp, thau chua, rửa mặn, phát hiện đưa ra một lý thuyết hoàn toàn mới với "phác đồ điều trị" đặc hiệu: ém phèn tầng sâu, rửa phèn tầng mặt, kết hợp biện pháp xạ ngầm độc tôn được các chuyên gia Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp ÐTM giải thích vắn tắt: Lúc nào cũng phải giữ cho ruộng có nước để nhấn chìm phèn tầng sâu cho nó không xì lên "tiếp tế" cho lớp phèn tầng mặt. Còn phèn tầng mặt thì thay nước liên tục rửa đi. Vì phải giữ cho ruộng luôn có nước nên phải xạ ngầm... chỉ đơn giản thế thôi, song nếu đọc tài liệu sẽ là cả một đống công thức, thông số kỹ thuật từ các kết quả điều tra, nghiên cứu, thực nghiệm được cụ thể hóa bằng mô hình, cơ cấu cây trồng, biện pháp canh tác...
Nhớ khi khai phá ÐTM rầm rộ, chúng tôi đến thăm 20 ha ruộng thí nghiệm và dự cuộc họp đầu bờ do Chương trình nghiên cứu phát triển nông nghiệp ÐTM được ký kết giữa Viện Khoa học Nông nghiệp miền nam và Quỹ hợp tác phát triển Bỉ (ISA/FOS) tổ chức tại xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh. Nhìn những ruộng lúa đã uốn cong quả me, hắt mầu vàng rực trong nắng trưa ÐTM ai cũng sướng mắt.
Chủ lô ruộng số 20 là bác nông dân lớn tuổi Lương Văn Thành, đội nón phớt kiểu miền Tây, áo sơ-mi trắng, quần xanh chỉnh tề. Thấy chúng tôi lội ruộng, vội nói: "Suốt ngày này tháng nọ lam lũ, hôm nay đón khách "qua" mới ăn mặc đàng hoàng thế này đừng "soi mói" nghen". Tôi nhận biết trên nước da mặt sạm nắng của bác Thành rạng rỡ một niềm vui lúa trúng mùa. Bác Thành vừa cúi xuống vuốt ve từng bông lúa, vừa tâm sự: "Gia đình tôi đông con, được xã chiếu cố cho ba mẫu (ha) ruộng này. Vụ đầu tôi chưa biết ất giáp kỹ thuật gì nên mần ăn thất bại. Vụ trước kết hợp với ISA/FOS hướng dẫn kỹ thuật nên thu hoạch khá, có lời chút ít. Còn vụ này thì thấy đó, năng suất cầm chắc 5 tấn/ha". Có gì sung sướng hơn một nông dân nghèo, lam lũ như bác Thành có được ba ha ruộng từ đất hoang cho 5 tấn/ha/vụ.
Không còn gì phải nghi ngờ, trước mắt chúng tôi, 3 ha lúa của bác Thành và cả 20 ha lúa thí điểm trải dài đang chín vàng (mà chẳng hề mất một cân vôi) đã là câu trả lời rõ ràng cho phương pháp canh tác mới mà ISA/FOS dày công nghiên cứu.
Thú nhất là tôi được ăn bữa trưa đãi khách của các bác nông dân và "hai ông Tây làm ruộng cho ta" Hu-sơn, Cô-li-ô, kỹ sư người Pháp, điều phối viên chương trình ISA/FOS. Từ xa nhận ra dáng cao lớn của Hu-sơn, anh bạn phóng viên Ðài Tiếng nói Việt Nam đã quen biết Hu-sơn mỗi khi anh về Viện Khoa học Nông nghiệp miền nam dự họp, gọi to: "Hu-sơn?". Hu-sơn chạy đến bắt tay chúng tôi rất chặt nói bằng tiếng Việt lơ lớ: "Khỏe, rất khỏe, còn các anh?". Thế là cuộc đối thoại giữa chúng tôi, một anh tiếng Pháp "giả cầy" và anh kia tiếng Việt "gà mờ" diễn ra trên cánh đồng lúa chín thơm lựng gió, tuy bất thành văn phạm, nhưng vẫn hiểu được nhau.
Bữa ăn cũng có thịt gà luộc chấm muối tiêu của Hu-sơn, Cô-li-ô tự nuôi, còn lẩu lươn đồng, cá lóc nướng trui của các bác nông dân. Dù không bia bọt, chỉ vài ly rượu đế mà ấm cúng, chuyện cứ nổ như pháo rang. Hu-sơn, Cô-li-ô đều rất hài lòng với những ngày các anh ở chòi giữa ÐTM, ăn cơm bằng đũa, tắm nước phèn "ba cùng" với nông dân khẩn hoang.
Trả lời tôi về cảm tưởng của mình, Cô-li-ô cười rất tươi: "Ở đây rất thích, thích nhất là có nhiều việc để làm". Việc để Cô-li-ô làm chính là thành lập những ngân sách bổ sung của ngân hàng nông nghiệp cho người dân ÐTM vay để khẩn hoang làm ra lúa, khoai, đay... và dựng nghiệp nơi này.
Còn bây giờ ÐTM đã một trời một vực so với cái thời nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê, tác giả "Bảy ngày đêm ở ÐTM" tả Mộc Hóa "lau sậy mọc chen nhau đến nỗi phải vạch ra để tiến. Lá lau sậy sắc nhọn cào cứa chảy máu cả tay. Cỏ năn phản chiếu ánh nắng như ức triệu lưỡi gươm. Ðám mây muỗi xà vào lỗ mũi, lỗ tai, cổ áo ớn lạnh đến sống lưng, phải nín thở mà chạy...". Nếu nay sống lại chắc ông sẽ kinh ngạc khi biết rằng Mộc Hóa đã là thị xã, và bây giờ đi vào vùng trũng sâu ÐTM không chỉ "độc thủy lộ phía Cai Lậy", mà có năm, sáu tuyến đường, trong đó quốc lộ 62 tráng nhựa láng coong từ thị xã Tân An tiến vào, nếu tính đến thành phố Hồ Chí Minh, độ dài cũng chỉ hơn 100 km.
Anh Phan Tiến Dũng từng là Chi cục trưởng Chi cục phát triển kinh tế ÐTM, đưa ra con số: cuối năm 1987 vùng ÐTM mới khai phá 312.700 ha trên gần 700.000 ha đất hoang đưa vào sản xuất một vụ lúa, đạt sản lượng hơn 1 triệu 100 nghìn tấn thóc. Mười hai năm sau (1999) đất hoang ở đây chỉ còn chưa đầy 50 nghìn ha và 5 huyện, 40 xã, 200 điểm dân cư mới hình thành, hằng năm sản xuất hơn 3 triệu tấn thóc. Có nghĩa là công việc khai phá ÐTM cơ bản hoàn thành, chỉ hơn 10 năm diện tích khai hoang bằng cả mấy trăm năm cộng lại, sản lượng tăng gấp ba lần năm 1987.
Anh Dũng nói văn hoa: Có công trình nào mà cả nước khai phá, xây dựng kéo dài, gian khó bằng tất cả sự kiên trì, quyết chí của nhiều thế hệ như công cuộc khai phá ÐTM?
Nhớ khoảng thời gian xa lắc trước năm 1987, sản xuất nông nghiệp ở đây chỉ là sự canh tác hạn hẹp, diện tích trồng lúa khoảng 180.700 ha. Người dân quen trồng một vụ lúa mùa không chắc ăn, năng suất luẩn quẩn ở mức dưới 1,5 tấn/ha. Như một thách đố, nhiều đơn vị khoa học, nông nghiệp, thủy lợi cùng được lệnh vào cuộc. Tấm bản đồ ÐTM trải rộng, con kênh Dương Văn Dương được đào từ năm 1889, tuy ở hạ nguồn sông Tiền cũng giúp một vùng lớn ÐTM sản xuất được lúa cho ý tưởng đào kênh Hồng Ngự, dân trong vùng quen gọi là kênh Trung Ương. Bài toán cải tạo đất và thay đổi tập quán canh tác được tính toán đưa vào giải mã, đáp số là "Nhà nước và nhân dân cùng làm", Trung ương lo phần vĩ mô, quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng. Ðịa phương lo phần vi mô, xây dựng đồng ruộng, đưa dân vào lập nghiệp.
Thủy lợi được coi là biện pháp hàng đầu, hơn 600 km đường kênh trục, gần 1.500 km đường kênh cấp một, 3.500 km kênh cấp 2 và cả chục nghìn km kênh mương cấp 3, nội đồng được xây dựng với tổng khối lượng đào đắp 200 triệu m3, tạo cho ÐTM hệ thống kênh mương tương đối hoàn chỉnh, thau chua, rửa mặn, ém phèn, tưới tiêu cho 650.000 ha, trong đó có gần 300.000 ha mới được khai phá từ năm 1987 - 1999.
Sau thủy lợi là cuộc "canh tân", biện pháp kỹ thuật kết hợp: ém phèn tầng sâu, rửa phèn tầng mặt, thau chua, rửa mặn, xạ thẳng, xạ ngầm, giống ngắn ngày năng suất cao, bón phân kết hợp NPK, thâm canh, tăng, chuyển vụ... thay đổi tập quán canh tác cũ, thiết lập tập quán canh tác mới, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, từ một vụ năng suất thấp bấp bênh thành hai vụ đông xuân và hè thu ổn định ăn chắc. Năng suất lúa nhờ vậy tăng từ 1,5 tấn đến 3 tấn lên 12 tấn/năm. Sản lượng năm 1999 đạt gần 5 triệu tấn, chiếm 20% sản lượng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bình quân lương thực đầu người tăng nhanh từ 862 kg/người năm 1987 lên 2.800 kg người/năm 1999. Riêng tỉnh Long An có 15 xã ở hai huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng đạt 6.000 - 8.000 kg/người/năm. Khổ nỗi mấy năm sau đó giá lúa thấp và tiêu thụ khó khăn.
Anh Năm Thành, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Long An, kể: "Thật cực, đi đâu, gặp ai, từ ông giám đốc nông trường đến mấy bà, mấy bác nông dân, anh đều bị bà con nói móc: các ông tỉnh, ông huyện hô hào bà con trồng, cấy cho lắm vào, bây giờ lúa, khoai, mía, lạc đều không chỗ bán, giá như cho. Các ông tính sao, hay để bà con mắc nghẹn?" Nói thế, nét mặt Năm Thành vẫn tươi: "Thật khổ với dân mình, đói thì rầy, no thì cự, nhưng nghe bà con la rầy lúc dư thừa vẫn thấy vui".
Vui nhất là năm đầu vỡ hoang, Long An cùng lúc dùng cả "lục, không quân" vào việc vỡ đất gieo xạ. Dưới đất 200 máy cày loại lưỡi to bản do Liên Xô sản xuất phá đất băng băng, trên trời bốn chiếc máy bay lên thẳng làm cái việc gieo lúa trên cánh đồng trải dài tít tắp.
Ông Ba Nhóm, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An, một "tướng quân" khai phá ÐTM, kể lại: Hồi đó chiến tranh mới kết thúc, đất ÐTM rộng mênh mông, dân cư thưa thớt mà đi đâu cũng thấy dân thiếu đói. Ðêm nằm nghĩ không ra, sao đất đai bao la mà dân không gạo? Cán bộ lãnh đạo tỉnh Long An mạnh dạn ra Hà Nội "xin" Trung ương cho khai hoang thử 12.000 ha trồng lúa vượt nước, được "gật đầu" ngay, còn ra lệnh cho Bộ Nông nghiệp chi viện máy cày. Chưa đầy tháng đã phá hoang 10.000 ha đất, nhưng không kiếm đâu ra người gieo cấy. Gay go quá, tôi mò lên Tân Sơn Nhất gặp mấy anh bạn là bộ đội không quân, nhờ giúp "Có cách nào cải tiến máy bay chiến đấu để gieo hạt như các nước tiên tiến không?" Ðề tài thật hấp dẫn với mấy anh quân đội, nên họ quyết giúp không quản ngày đêm nghiên cứu chế tạo "khẩn cấp" hệ thống gieo giống từ máy bay trực thăng chiến đấu, cho gieo thử ngay trên đường băng Tân Sơn Nhất. Phía dưới bộ đội cắm cờ làm "hoa tiêu" để máy bay rải giống xuống đúng vị trí "ruộng". May mà làm đi làm lại nhiều lần rồi cũng đạt yêu cầu. Khi vào "chiến dịch" thật, Long An phải chạy mượn hàng trăm sinh viên Trường trung cấp Nông nghiệp đi cắm cờ làm hoa tiêu. Hằng ngày, từ sáng sớm bốn chiếc máy bay lên thẳng xuất phát từ Tân Sơn Nhất xuống Long An "cấy lúa giúp dân". Cả hàng nghìn người khắp nơi đổ về xem máy bay gieo hạt, bởi họ chưa thấy bao giờ. Xong việc, chúng tôi cũng chẳng có "phong bì" như bây giờ, chỉ kịp quăng lên máy bay một con heo tạ tặng đội bay về Tân Sơn Nhất đánh chén. Thật tình cảm quá trời".
Ông Ba Nhóm "chốt lại": Thu hoạch mười hai nghìn ha lúa một lúc chúng tôi lại phải chạy đôn, chạy đáo nhờ các trường đại học, trường sĩ quan quân đội xuống gặt giúp. Không ngờ vụ lúa sản xuất "đại cơ giới" trừ chi phí còn lãi tới 11.000 tấn thóc. Thời điểm đói kém, 11.000 tấn thóc thật lớn, còn quý hơn vàng.
(Còn nữa)
TRỌNG ÐẠT