Linh hoạt điều chỉnh cả tỷ giá lẫn biên độ
Từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh tỷ giá USD/VND hai lần mỗi lần 1% vào ngày 7-1 và 7-5. Ngày 12-8, NHNN đã nới biên độ tỷ giá từ +/-1% lên +/-2%. Ngày 19-8, Ngân hàng nhà nước (NHNN) tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1%, từ 21.673 đồng lên 21.890 đồng; đồng thời, tăng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3%. Với tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 21.890 VND/USD và biên độ tỷ giá +/-3%, thì tỷ giá trần là 22.547 VND/USD, tỷ giá sàn là 21.233 VND/USD.
Như vậy, trong tám tháng qua, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá ba lần (mỗi lần tăng 1%) và điều chỉnh biên độ tỷ giá hai lần (cũng mỗi lần nới rộng thêm 1%) , giúp VND có thể linh hoạt giao dịch theo một biên độ tỷ giá đã chênh rộng hơn tới 5% so với cuối năm 2014. Đồng thời, NHNN tái cam kết những tháng cuối năm sẽ chủ động phối hợp các biện pháp cần thiết, kể cả bán ngoại tệ để can thiệp, ổn định thị trường tiền tệ.
Thực tế cho thấy NHNN đã điều hành tỷ giá khá linh hoạt, điều chỉnh cả tỷ giá chính thức cũng như biên độ tỷ giá, phối hợp với việc nâng lãi suất huy động và cải thiện các điều kiện tiếp cận vốn ngân hàng.
Hơn nữa, thời gian gần đây, đồng USD của Mỹ đã tăng giá mạnh, trong khi một số quốc gia đã chủ động giảm giá đồng tiền. Do neo giá vào USD, đồng tiền nước ta (VND) đã tăng giá (cụ thể tăng hơn 20% so với đồng EURO) và tỷ giá Nhân dân tệ của Trung Quốc đã tăng gần 5% chỉ trong ba ngày từ 11 đến 13-8-2015. Vì vậy, sự điều chỉnh tỷ giá VND dù mang tính chủ động, nhưng nằm trong xu hướng và mức độ đã được dự báo, không đột ngột, giật cục, với mức độ chừng mực hợp lý, phù hợp với các động thái chính sách tỷ giá và tiền tệ chung của khu vực và thế giới.
Những tác động hai chiều khi chủ động và linh hoạt tỷ giá
Điều chỉnh tỷ giá linh hoạt khiến các giao dịch ngoại tệ mềm dẻo và minh bạch hơn. Sau quyết định nới tỷ giá USD/VND thêm 1% và nâng biên độ lên +-3% trong ngày 19-8, các NHTM đồng loạt tăng giá mua vào và bán ra USD thêm 180-380 đồng/USD. Vietcombank niêm yết giá ở mức 22.280 đồng (mua) và 22.380 đồng (bán), so với 22.035 đồng (mua) và 22.105 đồng (bán) trước đó. Mức giá này còn cách trần mới 22.547 là 167 đồng. Một số NH đã nâng giá bán lên 22.480, chỉ cách giá trần mới 67 đồng/1 USD.
Sự điều chỉnh linh hoạt tỷ giá theo hướng sát với sự điều chỉnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ giúp điều chỉnh sức cạnh tranh về giá trên thị trường xuất khẩu của Việt Nam, giảm bớt dòng nhập siêu các hàng giá rẻ từ Trung Quốc (trong bảy tháng đầu năm 2015, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất vào Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 28,8 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc cũng đang xuất khẩu và cạnh tranh rất mạnh với Việt Nam vào ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ (với kim ngạch ước tính đạt 18,9 tỷ USD), EU (17,8 tỷ USD); và ASEAN (10,7 tỷ USD). Trong năm 2014, thâm thương mại của Việt Nam với Trung Quốc ở mức 29 tỷ USD. Nửa đầu năm nay, con số thâm hụt là 16 tỷ USD. Một đồng NDT rẻ hơn có thể khiến thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tăng cao.
Việc chủ động công bố định hướng và khống chế biên độ tỷ giá là cơ sở hạn chế rủi ro về chính sách và giảm thiểu chi phí phát sinh gắn với biến động tỷ giá, giúp các doanh nghiệp an tâm và ổn định trong giao dịch, thanh toán, tạo động lực để doanh nghiệp mạnh dạn tái cơ cấu, đầu tư mở rộng quy mô, phát triển sản xuất kinh doanh; đồng thời, còn giúp giảm thiểu tình trạng chênh lệch tỷ giá chính thức với giá trên thị trường tự do, tăng dự trữ ngoại hối, tăng thu hút FDI, củng cố niềm tin vào giá trị đồng tiền quốc gia.
Ngoài tỷ giá, việc sử dụng khá linh hoạt, quyết đoán và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ khác, như giảm lãi suất, cải thiện điều kiện vay…, còn góp phần giúp thị trường tài chính tiền tệ “lặng sóng”, êm ả hơn; Các ngân hàng huy động được tiền, từng bước giảm lãi suất; Các doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn giá rẻ và bảo toàn được giá trị tiền gửi của người gửi tiền, cải thiện niềm tin của giới đầu tư vào môi trường kinh doanh Việt Nam.
Tuy nhiên, điều chỉnh tỷ giá VND sẽ ảnh hưởng đến dịch vụ nợ vì 80% các khoản vay của Việt Nam là bằng USD, theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khi tỷ giá tăng 1%, dịch vụ nợ của Việt Nam sẽ tăng trên 10.000 tỷ đồng. Sự điều chỉnh tỷ giá có thể khiến tăng áp lực giá vàng trong nước, cũng như làm tăng giãn cách giá vàng trong nước với giá thế giới nếu thiếu nguồn vàng nhập bổ sung mới. Ngoài ra, điều chỉnh tỷ giá có thể làm tăng áp lực lạm phát và giảm thu nhập thực tế của người dân.
Biến động tỷ giá luôn có tác động đến nền kinh tế, nhất là khả năng cạnh tranh của xuất khẩu, cán cân thương mại và thanh toán, nợ công, cơ cấu sản xuất, niềm tin vào bản tệ và vào chính phủ..., với mức ảnh hưởng tuỳ theo độ mở của nền kinh tế quốc gia với kinh tế thế giới, mối tương quan giữa tiền tệ trong nước với tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá bị chi phối mạnh bởi chính sách ngoại hối, bởi cung - cầu ngoại hối trên thị trường và cả việc bán ngoại tệ can thiệp vào tỷ giá của NHNN.
Đồng bản tệ được định giá cao hơn thực tế sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, giảm chi phí sản xuất, giảm sức ép lạm phát và giảm được chi phí dịch vụ nợ nước ngoài... về lâu dài lại làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu của nước đó, do làm tăng giá thành hàng xuất, và giảm giá hàng nhập tính bằng ngoại tệ; dẫn đến hạn chế xuất khẩu, kích thích nhập khẩu, làm tăng nhập siêu; kéo theo sự gia tăng lãi suất tín dụng trong nước, cũng như khoảng cách chênh lệch lớn giữa lãi suất trong nước với lãi suất ngoài nước, kích thích vay nợ nước ngoài dễ dãi, nhất là các khoản vay thương mại ngắn hạn theo lãi suất cao, từ đó nảy sinh những rủi ro tiềm tàng gắn liền với việc đáo hạn các khoản cho vay lại dễ dãi bằng bản tệ, kể cả cho vay kinh doanh có tính đầu cơ bất động sản và những rủi ro gắn với biến động về tỷ giá bản tệ trong tương lai (chi phí dịch vụ nợ sẽ tăng vọt do tỷ giá bản tệ tăng lên đe dọa làm mất khả năng thanh toán khoản nợ đã vay của các con nợ).
Hậu quả sâu nặng và lâu dài hơn cả chính là ở chỗ, việc định giá quá cao và kéo dài đồng bản tệ sẽ làm triệt tiêu các động lực phát triển sản xuất trong nước, trước hết là sản xuất và kinh doanh xuất khẩu, làm tăng buôn lậu và tham nhũng, kích thích sử dụng lãng phí ngoại tệ, không coi trọng các nguồn lực trong nước, kích thích nền kinh tế “bong bóng” phát triển trong tình trạng quá nóng và gia tăng liên tục sự thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán tài khoản vãng lai của nền kinh tế và hao hụt nhanh chóng dự trữ quốc gia để giữ giá bản tệ. Rút cuộc, nền kinh tế trở nên nghèo nàn và trống rỗng, những cơ sở kinh tế bảo đảm cho giá trị cao và ổn định của đồng bản tệ bị suy kiệt.
Nền kinh tế kém sức cạnh tranh, nguồn thu ngoại tệ bị cạn kiệt trong khi nợ nước ngoài không ngừng tăng lên, sức ép đáo hạn nợ gia tăng, nhu cầu mua vét ngoại tệ để trả nợ tăng vọt, đẩy giá ngoại tệ lên, đồng thời khởi đầu cho sự giảm giá đồng bản tệ không thể kìm giữ kéo theo một loạt hệ quả tiêu cực khác. Hơn nữa, việc bán ngoại tệ kéo dài để giữ ổn định tỷ giá trong bối cảnh có tồn tại mức chênh lệch cao giữa tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trường “chợ đen” sẽ dễ đồng nghĩa với việc khuyến khích các hoạt động đầu cơ ngoại tệ và làm giàu ngay trên lưng quỹ dự trữ quốc gia. Bởi khi đó, những người “nhanh nhậy” và có “quan hệ ảnh hưởng” sẽ tìm mọi cách mua lượng lớn ngoại tệ giá rẻ qua kênh NHNN để bán ra thị trường chợ đen kiếm lời chênh lệch tỷ giá đó. Hệ lụy sẽ nặng nề hơn và khó suy đoán hơn, nếu có sự tiếp tay và cộng hưởng bởi nạn đầu cơ quốc tế;m hoặc tranh thủ “đục nước béo cò”, kích động chiến tranh tâm lý vì lợi ích nhóm hoặc phá hoại an ninh tài hính và ổn định kinh tế vĩ mô quốc gia.
Thực tế cũng cho thấy, không có một cơ chế tỷ giá hối đoái nào là tối ưu trong mọi trường hợp, nhưng chính sách tỷ giá linh hoạt vẫn là phương thức phổ biến được nhiều quốc gia lựa chọn nhất. Ổn định tỷ giá một không có nghĩa là duy trì tỷ giá bất biến mà vận động “có lên-có xuống”, là điều kiện tốt cho tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ nhất định bảo đảm quan hệ cung-cầu lành mạnh thị trường có sự điều tiết tích cực của nhà nước và kết hợp đồng bộ với các giải pháp khác.
Với những giải pháp mà NHNN đã và đang triển khai, đặc biệt là việc sẵn sàng bán ngoại tệ để can thiệp thị trường, kiểm soát chặt chẽ hoạt động mua bán ngoại hối, ngăn chặn và hạn chế những nhu cầu ảo, nhu cầu ngoại hối không chính đáng; thường xuyên cập nhật, phân tích, đánh giá một cách toàn diện, từ đó có những giải pháp và kịch bản chủ động, linh hoạt điều hành tỷ giá… không chỉ là điều kiện ổn định giá trị đồng tiền Việt, đáp ứng yêu cầu giữ vững ổn định vĩ mô, hỗ trợ sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp, củng cố niềm tin trên thị trường và hài hòa các lợi ích trong bối cảnh kinh tế hiện nay.