Đổi mới ở Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài

Ngày 15-6, hội thảo lần cuối cùng đã diễn ra tại Hà Nội thu hút các diễn giả hàng đầu: trợ lý tổng thư ký Liên hợp quốc Jomo Kwarne Sundaram và cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam Pete Peterson.

Hộ khẩu làm gia tăng bất bình đẳng

Ông Sundaram - nhà kinh tế chính trị nổi tiếng của Malaysia, hiện là trợ lý tổng thư ký (TTK) LHQ - trong bài phát biểu của mình đã đặc biệt lưu ý tới các chính sách nhằm giảm bất bình đẳng (BBĐ) trong quá trình tăng trưởng. Theo ông, mặc dù BBĐ được ghi nhận là không quá gay gắt tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới nhưng không thể tự thỏa mãn vì Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa.

“Có khả năng những nhân tố thúc đẩy BBĐ ở Trung Quốc cũng sẽ phát triển tại Việt Nam. Giống như Trung Quốc, ở Việt Nam ngày càng ít lực lượng lao động được đảm bảo bởi các cơ chế an sinh xã hội của doanh nghiệp và hệ thống an sinh xã hội phổ cập chưa được hình thành. Việt Nam ngày càng phải dựa vào việc thu lệ phí của người dân để tạo ra nguồn thu cho chi tiêu y tế và giáo dục” - ông Sundaram nói.

Một trong những ví dụ điển hình của các nhân tố làm tăng BBĐ ở Việt Nam được ông Sundaram đề cập là hệ thống đăng ký hộ khẩu. Theo ông, hệ thống này là một trở ngại đối với dân cư nông thôn tìm kiếm việc làm tại thành phố. “ Khi đến sống tại thành phố, những di dân không đăng ký sẽ dễ bị lôi kéo, bóc lột và lạm dụng vì họ không có được quyền lợi pháp lý như những người có hộ khẩu thành phố. Những người ngoại tỉnh cũng phải trả nhiều tiền hơn cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Do đó, hệ thống hộ khẩu đang góp phần làm tăng BBĐ giữa nông thôn và thành phố” - ông Sundaram phân tích.

Trả lời một học giả Việt Nam về việc BBĐ liệu có phải là một hiện tượng tất nhiên của tăng trưởng, ông Sundaram kiên quyết phản đối ý kiến cho rằng nên xem BBĐ là điều không thể tránh khỏi. Ông Sundaram chỉ ra rằng một số nước Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản đã từng có những thời kỳ tăng trưởng mạnh vào những năm 1960 nhưng không kèm theo BBĐ. Ông cảnh báo nếu Việt Nam xem thường BBĐ thì những đổ vỡ về mặt xã hội sẽ xảy ra.

Theo ông Sundaram, BBĐ tăng lên luôn đi kèm với việc người nghèo bị giảm cơ hội tiếp cận với dịch vụ giáo dục, y tế, do vậy ảnh hưởng tới sự phát triển của con người. Ông nói: “Sức mạnh của nền kinh tế chính là nguồn nhân lực. Việc để một số lượng lớn nhóm người bất mãn về các chính sách xã hội sẽ dẫn tới mất ổn định chính trị và kéo theo suy thoái kinh tế.

Kinh nghiệm của Malaysia là từ những năm 1970, 1980 đã rất chú trọng tới đào tạo bậc trung học cho các ngành điện tử, công nghệ cao và cung cấp các dịch vụ y tế tốt cho toàn dân nên khi giai đoạn công nghiệp hóa 1988-1997 bùng nổ, nguồn nhân lực của Malaysia đã tận dụng cơ hội này tốt nhất”.

Cải cách kiểu Việt Nam: từng bước

Cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam Pete Peterson: Việt Nam cần sẵn sàng nắm bắt cơ hội hơn

Lộ trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ đã bị chậm trễ hơn mong muốn. Tuy nhiên, thành thật mà nói cả phía Mỹ cũng làm chậm tiến trình này chứ không chỉ riêng Việt Nam.

Điều tôi muốn nói là trong quá khứ, một số quyết định có thể được đưa ra vào những khuôn khổ thời gian thực tế hơn.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay cần những quyết định nhanh chóng để nắm bắt cơ hội. Việt Nam đã học được điều này và tỏ ra biết nắm bắt cơ hội nhanh hơn.

Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải ra những quyết định trong tích tắc chứ không thể trì hoãn hàng năm trời để cân nhắc. Tôi muốn nói Việt Nam cần sẵn sàng hơn trong việc nắm bắt cơ hội.

Vị trợ lý TTK LHQ cũng nói rằng ông ủng hộ kiểu cải cách “dò đá qua sông” mà Trung Quốc tiến hành hay cải cách từng bước kiểu Việt Nam. “Các ví dụ về cải cách theo liệu pháp sốc như ở Nga hoặc theo kiểu Big Bang (vụ nổ lớn) như ở Nhật những năm đầu 1990 đều không cho thấy sự thành công.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện đang có sự mất cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Giai đoạn tiếp theo của công cuộc đổi mới cần phải bao hàm sự phát triển của xã hội công dân dựa trên những quyền lợi dân sự, chính trị và xã hội, kết hợp với nghĩa vụ chung đóng góp cho cộng đồng” - ông Sundaram nói.

Tuy nhiên, một diễn giả khác - cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam Peter Peterson - lại không hoàn toàn nghĩ như vậy. Trong bài phát biểu được chuyển tới các đại biểu dự hội thảo, ông Peterson cho rằng: “Đổi mới đã có thể đem lại những thắng lợi về kinh tế lớn hơn nhiều trong một khoảng thời gian ngắn hơn nếu các chính sách được đưa ra quyết liệt hơn với một tầm nhìn rộng hơn”.

Ông Peterson nhắc tới hai cơ hội bị bỏ lỡ. Thứ nhất là trạng thái hầu như đứng yên của Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế châu Á giữa năm 1997. Theo ông, nếu vào thời điểm đó Việt Nam tăng tốc quá trình đổi mới và tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn hơn thì Việt Nam đã có thể thu hút nhiều hơn đầu tư nước ngoài. “Trong thời gian đó, xung lượng của đổi mới đã nhanh chóng bị bốc hơi và phải mất hàng năm các nhà đầu tư nước ngoài mới có được sự tin tưởng để trở lại mức trước thời kỳ khủng hoảng” - ông Peterson viết trong tham luận của mình.

Cơ hội thứ hai mà ông Peterson cho rằng là cơ hội lớn nhất liên quan tới việc sớm ký kết Hiệp định thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam. Theo vị cựu đại sứ, nếu Việt Nam bớt ngại ngần trong việc nhanh chóng ký kết BTA với Mỹ thì đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam có thể được đẩy mạnh rất nhiều và Việt Nam đã có thể đứng trong WTO từ vài năm trước.

Ông Peterson cho rằng từ thực tế ở Việt Nam, có thể thấy “đổi mới được các nhà lãnh đạo chấp nhận về mặt nguyên tắc thì trong thực tế việc thực hiện các chính sách đổi mới là quá trình tiến hai bước lùi một bước. Kết quả là tiến trình đổi mới diễn ra chậm hơn nhiều so với khả năng”.

Có thể bạn quan tâm