Một phần bài viết được Hội J.Fucik cho dịch và in trong tập kỷ yếu phát hành tại Prague tháng 2-2003, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của J.Fucik.
Vào năm 1953, một người bạn ở Pháp về mang đến cho tôi một quyển sách rất quý: Viết dưới giá treo cổ bằng tiếng Pháp. Tôi đọc liền một mạch, từng trang, từng trang sáng lên một ánh lửa kỳ diệu của một tinh thần cách mạng quyết liệt, một trí tuệ mẫn tiệp, một tâm hồn yêu đời, yêu người tha thiết, luôn luôn bừng lên một niềm tin, một giọng lạc quan như một bài ca bất tuyệt đối với lý tưởng cộng sản. Tuy đã từng biết nhiều đồng chí dũng cảm trong các nhà tù như Lao Bảo, Buôn Ma Thuột, Côn Ðảo..., và bản thân cũng nếm đủ thứ "văn minh dã man" của các công cụ tra tấn của địch, tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng đến nỗi mắt tôi luôn luôn nhòa lệ. Tôi đã khóc không phải vì đau đớn, mà chính vì sung sướng, tự hào: lý tưởng của Ðảng Cộng sản chúng ta đã có những chiến sĩ anh hùng như thế, anh hùng một cách tự nhiên, giản dị như chính chân lý vậy. Viết dưới giá treo cổ là một thiên ký sự, đúng hơn là một bản tự thuật về những sự việc và con người trong tù, ở đây là nhà tù Pankrac ở Prague, khi nước Tiệp Khắc đang bị phát-xít Ðức thống trị.
Hằng ngày là những cuộc tra tấn, chết đi sống lại, những lời dụ dỗ, những thủ đoạn làm mềm lòng người chiến sĩ gan góc, dứt khoát không đầu hàng kẻ địch tàn bạo. Và như thế, suốt từ ngày 24 tháng 4 năm 1942 đến ngày 8 tháng 9 năm 1943, Julius Fucik, một đồng chí lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, một nhà văn tài năng Tiệp Khắc đã phải chịu đựng một sự hành hình không bao giờ ngớt, cho đến khi chết. Nhưng Fucik, không hề kêu lên một tiếng đau thương, luôn luôn ngẩng cao đầu như một người chiến thắng trước mũi súng của bọn phát-xít. Trái tim của đồng chí luôn luôn hướng về những người đồng đội với tất cả lòng yêu quý, tin tưởng ở lòng trung thành của họ. Anh không bao giờ cảm thấy cô đơn dù phải biệt giam, bởi tinh thần anh gắn bó mật thiết với đồng chí với lý tưởng. Fucik là một tài năng lớn, Viết dưới giá treo cổ là một tác phẩm văn học thật sự, là hiện thân của chủ nghĩa cộng sản trên văn đàn. Nhưng ở đây, không hề có giọng "hùng hồn" trong từ ngữ, chỉ có những lời nói bình dị diễn đạt những ý tưởng cao cả, những tình cảm trong sáng, không một chút nào có vẻ "văn chương". Và giá trị lớn lao của nó là ở đó, ở sự bình dị cao quý, như một viên hồng ngọc trong suốt. Có lẽ văn học thế giới xưa nay, hiếm có một áng văn tuyệt vời đến thế, nó làm cho Fucik đến với mọi trái tim và khối óc tìm tới Chân Thiện Mỹ. Ðến nay, đồng chí đã qua đời 58 năm, nhưng đọc tác phẩm này, tưởng như anh còn sống, sống hơn bao giờ hết.
Tôi muốn kể ở đây một kỷ niệm khó quên, năm 1964, tôi đi Cuba về, có ghé qua Prague vài ngày. Tôi nghĩ ngay đến việc thăm Lidice, nơi đã xảy ra một vụ thảm sát của bọn phát-xít Ðức đối với dân thường, như ở
Mỹ Lai của ta. Sau đó, tôi yêu cầu được vào thăm nhà lao Pankrac, nơi Julius Fucik bị biệt giam năm 1942. Người quản ngục đưa tôi đến phòng số 400, ở đó có một cái giường và một máy chém để hành hình người tử tù. Tôi càng hiểu thêm giá trị từng câu chữ của tác phẩm, tinh thần chiến đấu kiên cường của người đồng chí Tiệp Khắc. Người coi ngục nói với tôi, có vẻ xúc động: "Ông quan tâm đến phòng giam này, thật là đặc biệt, vì sao?". Tôi trả lời: "Vì tôi yêu quý và kính trọng nhà văn cộng sản Julius Fucik!".
Tôi nhìn lên bức tường, bỗng nhiên thấy có một bài thơ viết bằng máu. Ðồng chí phiên dịch cho tôi biết đó là một bài thơ của một chiến sĩ trước khi lên máy chém trong phòng giam. Và anh dịch cho tôi bài thơ ấy tên là "Tạm biệt", bắt đầu bằng hai câu:
Bạn ơi! Nếu đầu ta rơi mất
Ta sẽ mang trái đất trên vai...".
Dưới bài thơ là tên tác giả Jindrich Vichra. Chưa bao giờ tôi bị xúc động đến thế. Giọng thơ này, tâm hồn này cũng như của Julius Fucik vậy.
Chủ nghĩa cộng sản, dù có lúc, có nơi bị thất bại tạm thời, song luôn luôn có những người chiến sĩ như Fucik và như tác giả bài thơ kia, thì không bao giờ bọn đế quốc phát-xít độc ác có thể yên ổn, nhất định chúng sẽ bị đánh bại bởi chính những người chúng giết hại, những con người không bao giờ sợ chết, vì tình yêu vô cùng của họ đối với cuộc sống con người.