Đọc sách: Một thời đạn bom, một thời hòa bình

Nhà báo Phạm Thanh
trên tuyến lửa Khu 4
những năm 1965-1970.
Nhà báo Phạm Thanh trên tuyến lửa Khu 4 những năm 1965-1970.

Lấy tên tập sách như vậy, tác giả đã thể hiện sự gắn bó chặt chẽ của mình với Hà Nội nói riêng, với cuộc sống lớn của nhân dân nói chung từ tầng sâu nhất, trực diện nhất của một thời đạn bom, một thời hòa bình ấy. Nó cũng nói lên một sự nghiệp, một cốt cách làm người.

Phạm Thanh tên thật là Phạm Thanh Nguyệt, sinh năm 1932 tại Quảng Xương, Thanh Hóa, tốt nghiệp ÐHSP Văn khóa I, năm 1957 - nghĩa là một trong những cử nhân lớp đầu được đào tạo dưới CNXH ở miền bắc vừa giải phóng.

Ông được đào tạo để làm nhà giáo nhưng cuộc sống lại rẽ sang một hướng khác: năm 1962, ông được điều về báo Nhân Dân và công tác ở đó cho đến ngày nghỉ hưu, từ một phóng viên đến tổ trưởng rồi Trưởng ban Kinh tế Công nghiệp, một ban quan trọng của báo. Nghĩa là ông gắn trọn sự nghiệp của đời mình với tờ báo Ðảng, tờ báo anh hùng, người cổ vũ tập thể, thức dậy sức mạnh lớn lao của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong mọi thời kỳ.

Trong thời hòa bình, trong làng báo kinh tế có lẽ không mấy ai không biết đến Phạm Thanh. Bởi vì ông luôn có mặt trên những công trường xây dựng lớn của đất nước như Sông Ðà, Ya Ly, Trị An điện; Thăng Long, Sông Gianh cầu đường; Bỉm Sơn, Hoàng Thạch xi-măng; Vũng Tàu dầu khí, v.v. Ông cũng luôn luôn có mặt hàng đầu trong những vấn đề mới về quản lý như giá cả, quyền tự chủ của doanh nghiệp.

Nhiều vấn đề kinh tế mới mà báo Nhân Dân  tham gia chủ trì, có đóng góp trực tiếp của nhà báo Phạm Thanh. Với những kinh nghiệm dày dặn, với ý chí tiến công của một ngọn bút được tôi rèn trong lửa đỏ cách mạng, Phạm Thanh có nhiều bài viết chống tiêu cực đánh lớn, đánh trúng, đánh kịp thời được dư luận đánh giá cao như Kiên quyết chống tham nhũng, lập lại trật tự kỷ cương trong xây dựng; Sốt xi-măng - trách nhiệm thuộc về ai? Cần làm sáng tỏ chuyện mua tàu cao tốc...

Không thể nói những trang  viết của thời nào - chiến tranh hay hòa bình có giá trị hơn, nhưng có lẽ những trang viết được thực hiện trong khói bom của tuyến lửa khu IV, của Hà Nội 12 ngày đêm Tháng Chạp năm 1972 để lại trong Phạm Thanh những kỷ niệm sâu sắc, không thể nào quên được, dù là chi tiết nhỏ.

Ông nói: Thời ấy còn ai nhớ, ai đã quên? Dù có quên hay nhớ, thì vẫn còn đó những bài viết trong đạn lửa, viết trong công sự, trong chiến hào, viết trong đêm bằng ngọn đèn dầu phòng không chỉ vừa đủ sáng nửa trang giấy. Muốn viết nhiều, cần đi nhiều, đi bằng xe đạp, có chuyến đi bộ hai, ba ngày đường... Bài viết cho bản báo không có nhuận bút; tiền lương ít ỏi chia đôi, một nửa để cho cha mẹ vợ con, một nửa mang theo cùng một tập tem phiếu gạo...

Ở đây, ta không chỉ thấy những tấm gương anh hùng của người chiến sĩ công binh, cao xạ, chị thanh niên xung phong đại đội 5, đồng chí Huê lái xe xác định: Dù có hy sinh, chỉ hy sinh trong buồng lái... mà còn thấy rõ sự vất vả, hy sinh và anh hùng của người phóng viên thời chiến.

Phạm Thanh kể: Xem ra cuối năm 1964 tình hình tạm thời yên ắng, tôi được gọi về Hà Nội, viết tiếp một số bài về Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh trong tư thế vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu. Cơ quan không gọi cũng phải về, vì tem gạo chỉ đổi được ba tháng đã hết. Tôi lại về công tác ở Ban Văn xã của báo. Ðồng tiền lúc ấy hiếm hoi, họp ban quyết định góp mỗi người ba đồng tổ chức liên hoan tại nhà tôi. Thực đơn khá hấp dẫn: gà luộc, xôi xéo, miến lòng. Hai chị Nguyệt Tú và Mai Hân đi chợ, làm bếp,  tôi sửa soạn nồi niêu, đũa bát, rửa rau. Mới luộc chín con gà, nghe tiếng chân người chạy gấp lên cầu thang, đó là anh Lưu lái xe đến, hớt hải thông báo: Bác Hoàng Tùng (Tổng Biên tập) nói là anh phải đi ngay lên Tổng cục Chính trị tập trung để vào Hà Tĩnh. Hôm nay Hà Tĩnh đánh lớn, thắng to... Thế là lên đường, tuy không khỏi bần thần. Vợ còn ở cơ quan chưa về, con lớn đang ở trường mẫu giáo, con bé đang ở nhà trẻ... Buổi chiều liên hoan đón tôi về Ban, trở thành bữa cơm liên hoan tiễn tôi lên đường nhưng lại vắng mặt tôi...

Tôi vẫn nhớ câu đầu trong bài viết của Phạm Thanh, khi viết về chiến thắng của Hà Tĩnh trong chuyến đi đó chỉ một câu ngắn gọn mà thể hiện được sự điềm tĩnh, khẳng định được cái thế của ta là thế đứng trên đầu thù trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước: "Xâm phạm bầu trời Hà Tĩnh, giặc Mỹ đã bị giáng trả một đòn sấm sét".

Báo Nhân Dân, nếu như các đồng chí Hữu Thọ, Nguyễn Sinh, Hồng Khanh, Quốc Vinh bám trụ ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, thì Phạm Thanh, Thanh Phong... ở Thanh Nghệ Tĩnh trong thời kỳ ác liệt nhất. Những phóng viên khác cũng được chia ra theo từng chiến trường, theo sát bước chân người chiến sĩ giải phóng.

Sau khi ở khu IV về, Phạm Thanh lại được cử làm tổ trưởng Tổ phóng viên chiến tranh tại Hà Nội gồm thêm Thế Văn, Ðỗ Quảng, Trần Quỳnh, Trịnh Hải, Văn Bang, khi cần, được sự hỗ trợ của các nhà báo Hữu Thọ, Chính Yên và tham gia của Hồng Vinh, Kim Anh, Phạm Hồ Thu... Ðó là thời của những trang viết hào hùng và cuộc sống hào hùng. Rất tiếc, những chiếc xe đạp vượt hàng nghìn cây số, những chiếc mũ sắt phóng viên, những cuốn sổ ghi chép... không giữ được nhiều trong Phòng truyền thống...

Tuy nhiên, đọc lại bài viết của các nhà báo đàn anh trong thời kỳ đó, không chỉ hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về một thời kỳ lịch sử mà còn học tập được những kinh nghiệm, nhất là về nhân sinh quan của một người làm báo chân chính.

Phạm Thanh còn có một vinh dự đặc biệt trong nghề làm báo của mình: Bài Phê bình và sửa chữa ở chi bộ Phú Thành (Nghệ An) đăng ngày 3-8-1969 trên báo Nhân Dân đã được Bác Hồ đóng khung đỏ và ghi bên cạnh: "Cắt dán lưu về Ðảng". Bài báo đó hiện đang được lưu giữ tại Nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch.

Hồi tôi là phóng viên thường trú tại Nghệ Tĩnh, ở đâu, người ta cũng nhắc tới nhà báo Phạm Thanh với những kỷ niệm thân thiết, từ bữa cơm trên trận địa ở Làng Ðỏ đến bước chân lội ruộng Quỳnh Lưu...

Một thời đạn bom, một thời hòa bình... Ai nhớ, ai quên... Tôi nghĩ rằng, những giá trị đích thực không bao giờ bị lãng quên, vì nó vẫn hiển hiện làm cao quý hơn tâm hồn và cuộc sống hôm nay.

Có thể bạn quan tâm