Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo; kiên quyết giữ vững nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược, Đảng ta đã phát huy ngày càng mạnh mẽ các nhân tố thuận lợi, hạn chế những khó khăn, phức tạp, biến yếu tố quốc tế, yếu tố thời đại thành sức mạnh hiện thực lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi.
Lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thuận lợi song cũng chứa đựng không ít phức tạp, khó khăn, Ðảng ta chủ trương giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam và cách mạng XHCN ở miền bắc nhằm thực hiện mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, thống nhất nước nhà, mở đường đưa cả nước tiến lên con đường XHCN. Ðây là nội dung cốt lõi, xuyên suốt đường lối kháng chiến của Ðảng ta, là nét đặc thù nổi bật của cách mạng nước ta từ tháng 7-1954 đến tháng 5-1975. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở hai miền, với chủ trương kiềm chế và thắng địch ở miền nam, với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo; kiên quyết giữ vững nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược, chúng ta đã phát huy ngày càng mạnh mẽ các nhân tố thuận lợi, hạn chế những khó khăn, phức tạp, biến yếu tố quốc tế, yếu tố thời đại thành sức mạnh hiện thực để mở rộng và tăng cường thực lực của cuộc kháng chiến.
Trong những năm tháng chiến tranh, Ðảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo vun đắp, phát triển tình đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN. Thực tế, từ đầu, các nước XHCN nói chung đã dành cho sự nghiệp kháng chiến của chúng ta sự giúp đỡ quý báu. Một số nước anh em và bầu bạn gần xa tuy đứng về phía ta,nhưng còn băn khoăn do lo ngại chiến tranh có thể sẽ lan rộng, đe dọa hòa bình thế giới và chưa tin nhân dân ta có đủ khả năng đương đầu và đánh bại lực lượng quân sự khổng lồ của đế quốc Mỹ. Trước tình hình đó, Ðảng ta chủ trương động viên những nỗ lực cao nhất của cả nước, kiên quyết tiến hành kháng chiến, lấy việc đánh thắng các chiến lược và các biện pháp chiến tranh của đế quốc Mỹ làm mục tiêu tối cao và xem đó là những điều kiện chủ yếu để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Ðảng ta đã giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác, tranh thủ sự giúp đỡ rất quan trọng của các nước anh em, bầu bạn gần xa, làm thất bại từng bước âm mưu và các thủ đoạn ngoại giao thâm độc của đế quốc Mỹ trong việc chia rẽ Liên Xô, Trung Quốc với Việt Nam. Vào cuối cuộc chiến tranh, ta đã làm thất bại âm mưu gây sức ép từ nhiều phía hòng buộc ta phải nhân nhượng Mỹ trên bàn đàm phán...
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, trước những âm mưu và hành động của kẻ thù, nhân dân ba nước Ðông Dương đều có chung nguyện vọng là cùng nhau đoàn kết chiến đấu giành lại và giữ vững nền độc lập dân tộc, hòa bình cho đất nước nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Kẻ thù chung, mục đích chung cùng điều kiện lịch sử - địa lý của ba nước là cơ sở quan trọng hình thành liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trên bán đảo Ðông Dương. Mặc dù có những lúc thăng trầm nhưng nhìn chung, liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
Trong liên minh chiến lược đó, Việt Nam luôn tỏ rõ thái độ, trách nhiệm của mình đối với mỗi nước, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, luôn làm hết sức mình cho tình đoàn kết, hữu nghị, gắn bó giữa ba dân tộc và nhân dân ba nước. Suốt những năm kháng chiến, Chính phủ và Mặt trận của mỗi nước luôn phối hợp với nhau về chính trị, ngoại giao; lực lượng vũ trang ta và bạn sát cánh chiến đấu bên nhau, tạo ra thế chiến lược tiến công địch trên chiến trường ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược của địch trên chiến trường Ðông Dương.
Một biểu tượng ngời sáng của tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn được xây dựng, củng cố, không ngừng mở rộng bất chấp sự đánh phá, ngăn chặn quyết liệt của kẻ thù. Ðó là mạng đường trực tiếp gắn bó các chiến trường ba nước, nối liền hậu phương miền bắc với các hướng chiến lược quan trọng trên ba chiến trường. Trong quá trình liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, Việt Nam còn làm hết sức mình để giúp bạn xây dựng và phát triển thực lực kháng chiến, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của phong trào đấu tranh ở mỗi nước.
Trước những thủ đoạn ngoại giao và những luận điệu tuyên truyền đánh lạc hướng dư luận, biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ, chúng ta đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại, vạch rõ âm mưu và những tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, làm cho nhân dân và Chính phủ nhiều nước, trước hết là các dân tộc Á, Phi, Mỹ la-tinh đồng tình, ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, phản đối chính sách hiếu chiến, xâm lược của đế quốc Mỹ.
Ðối với nhân dân tiến bộ Mỹ, Ðảng, Nhà nước ta chủ trương làm cho họ ngày càng hiểu rõ lập trường và thiện chí của ta, thấy được tính chất phi nghĩa, tàn bạo, vô nhân đạo của cuộc chiến tranh xâm lược mà các đời tổng thống Mỹ theo đuổi ở Việt Nam.
Tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi to lớn, toàn diện về quân sự, chính trị của quân và dân ta trên cả hai miền nam, bắc, sự vững vàng của miền bắc XHCN trước thử thách khốc liệt của chiến tranh cùng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo trên đây của Ðảng, Nhà nước ta đã làm thất bại âm mưu và nhiều thủ đoạn ngoại giao của đế quốc Mỹ, tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ quốc tế ngày càng rộng rãi, to lớn. Trên thực tế, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đã hình thành ngày càng lớn mạnh; Tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Rut-xen được thành lập và tiến hành các phiên họp xét xử tội ác của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Chính phủ, các nhà hoạt động chính trị, xã hội và dư luận nhiều nước, kể cả một số đồng minh chiến lược của Mỹ, đã lên tiếng phê phán cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và Ðông Dương.
Bên trong nước Mỹ, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền không ngừng tăng lên, biến thành sự bất đồng, chia rẽ ngày càng gay gắt về chính trị. Vào những năm 1967, 1968, 1971, 1972, phong trào chống chiến tranh lan rộng ở một loạt các thành phố, các trường đại học trên toàn nước Mỹ. Ðiều đó trở thành nhân tố ngày càng quan trọng, tác động mạnh tới sự ổn định trong lòng nước Mỹ, chi phối quá trình điều hành chiến tranh của Chính phủ Mỹ. Và cuối cùng, buộc chính quyền Mỹ phải chấm dứt sự dính líu về quân sự ở Việt Nam.