Ðoàn kết quân - dân, nền tảng sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội ta do Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện. Là đội quân kiểu mới, Quân đội nhân dân (QÐND) Việt Nam vừa được tổ chức theo nguyên lý Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa mang tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc, mà biểu hiện sâu sắc nhất là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Thực tiễn lịch sử 70 năm qua khẳng định: "Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu" là quy luật sống còn và phát triển của QÐND Việt Nam. Trong kháng chiến hay trong hòa bình, mục tiêu lý tưởng và mọi hoạt động của Quân đội ta đều vì Ðảng, vì dân tộc, vì nhân dân; quan hệ máu thịt, cá - nước giữa quân với dân là nguồn gốc, nền tảng để xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt.

Ngay từ hồi còn trứng nước, các đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội ta là Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (với 34 chiến sĩ), Cứu quốc quân, du kích Ba Tơ..., sau là Việt Nam giải phóng quân, đã cùng các đoàn thể cách mạng tích cực vận động nhân dân đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tiếp đó, Quân đội đã dựa vào nhân dân, tiến hành đường lối chiến tranh nhân dân của Ðảng, xây dựng, phát triển từng bước, vừa chiến đấu chống thực dân Pháp và tay sai, bảo vệ nhân dân, vừa tham gia xây dựng cơ sở và lực lượng cách mạng..., cùng toàn Ðảng, toàn dân làm nên một Ðiện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", kết thúc thắng lợi chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, trên chiến trường miền nam, Quân đội đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, vừa chiến đấu tiêu diệt địch, vừa bảo vệ cơ sở cách mạng; dẫn dắt, xây dựng lực lượng dân quân, du kích, vừa hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ... Ở miền bắc, Quân đội là chủ lực quân trong thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn, góp phần để hậu phương lớn thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chi viện chiến lược, cùng quân và dân miền nam đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong thời kỳ đất nước hòa bình, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Quân đội là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân (QPTD); vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, vừa tham mưu cho Ðảng, Nhà nước xây dựng, chỉ đạo hoạt động các khu vực phòng thủ, khu kinh tế - quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng; xây dựng nền QPTD và thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Quân đội còn giúp nhân dân sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng đời sống mới; thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bão lụt, cháy nổ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai...

Quân đội ta không chỉ đoàn kết, chiến đấu vì nhân dân, dân tộc Việt Nam, mà còn đoàn kết chiến đấu vì nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới, nhất là nhân dân Lào và Cam-pu-chia, chống kẻ thù chung.

Những chiến công to lớn của Quân đội trong 70 năm qua là nhờ nỗ lực phấn đấu, hy sinh to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu; cùng với đó là một nhân tố vô cùng quan trọng là sự chăm lo, cưu mang, giúp đỡ của nhân dân. Quân đội từ nhân dân mà ra; nhân dân là người chở che, nuôi dưỡng, xây dựng Quân đội trưởng thành, cùng Quân đội chiến đấu và chiến thắng. Trong các thời kỳ kháng chiến, nhân dân các dân tộc Việt Nam đều sát cánh cùng Quân đội chiến đấu, với tinh thần: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng; nhân dân các dân tộc đã "chia lửa" với Quân đội, tiến hành chiến tranh du kích "thiên la địa võng", tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch; đấu tranh làm tan rã bộ máy kìm kẹp và các tổ chức của địch ở cơ sở... Nhờ đó, Quân đội có điều kiện vừa chiến đấu, vừa xây dựng, tập trung giáng những đòn quyết định tiêu diệt lớn quân địch. Khi thời cơ chiến lược xuất hiện, nhờ có nhân dân tích cực chuẩn bị chiến trường, phối hợp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ chính quyền tại các cơ sở vừa giải phóng..., mà Quân đội có điều kiện tiến công thần tốc, thực hiện những trận quyết chiến chiến lược, giành toàn thắng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Trong hòa bình, đặc biệt là thời kỳ đầu hòa bình, vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, nhân dân lại ra sức lao động sản xuất, cùng xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo chủ trương, đường lối của Ðảng; xây dựng hậu phương vững mạnh; tích cực thực hiện chính sách hậu phương quân đội, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng tiềm lực và sức mạnh quân sự, quốc phòng Việt Nam.

Ðền đáp lại tình nghĩa, sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội tiếp tục kề vai sát cánh cùng nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, để xây dựng các địa bàn ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế - xã hội, mạnh về quốc phòng - an ninh.

Ở mọi thời kỳ, QÐND Việt Nam luôn là chỗ dựa tuyệt đối trung thành, tin cậy của nhân dân; chiến đấu vì lợi ích của nhân dân, lấy phụng sự nhân dân làm mục tiêu lý tưởng; gắn bó máu thịt với nhân dân; tôn trọng, phát huy, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xây dựng, chiến đấu. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã khẳng định: Quân đội ta là quân đội của nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Là quân đội của nhân dân, do nhân dân đẻ ra, cho nên QÐND Việt Nam thường xuyên gắn bó máu thịt với nhân dân. Bằng những việc làm của mình, Quân đội đã làm cho nhân dân tin tưởng và gắn bó với Ðảng. Nhân dân là điểm tựa về tinh thần, vật chất; là cội nguồn, động lực tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội. Có thể khẳng định quan hệ máu thịt, cá - nước giữa nhân dân và Quân đội là nguồn gốc, nền tảng để Quân đội xây dựng vững mạnh về mọi mặt.

Thượng tướng NGUYỄN VĂN ÐƯỢC

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Có thể bạn quan tâm