Chạy "xe ôm" nuôi ba con vào đại học
Về thôn Bắc Lãm, phường Phú Lương, Hà Ðông, tôi len lỏi vào những ngõ ngách hẹp hơn một mét để đến nhà ông Khướng. Ðúng lúc ông chuẩn bị ra bến xe Hà Ðông chạy xe ôm. Nhà ông chỉ có chiếc tủ là đáng tiền, nhưng nó sạch sẽ và được treo rất nhiều giấy khen, giải thưởng các cuộc thi. Ðó là kết quả những tháng ngày nỗ lực của các con ông, những đứa con sinh ra đã khiếm thị, không bao giờ nhìn thấy ánh sáng. Bốn lần sinh, ba đứa con khiếm thị, hai người đã tốt nghiệp đại học, còn cô con gái út đang học năm thứ ba Học viện Âm nhạc quốc gia. Cô con gái cận út mắt chỉ hơi mờ, đã lấy được chồng và sinh ra hai đứa con xinh xắn. Ðó là những niềm vui mà vợ chồng ông Khướng may mắn nhận được trong đời.
Người dân thôn Bắc Lãm gọi vợ chồng ông Nguyễn Kim Khướng, bà Phùng Thị Hiển là "hai con ong cần mẫn". Ở Bắc Lãm, gia đình bình thường cũng hiếm có nhà nào tới ba con học đại học. Nhưng vợ chồng ông Khướng có. Ông Khướng trải qua đời lính gian khổ, lại làm thợ xây sau khi phục viên, rồi làm xe ôm, nên khuôn mặt khắc khổ của ông lúc nào cũng hằn nên nét buồn. Ngay cả cách nói chuyện của ông cũng buồn thê lương, chảy dài như người lái xe ôm cả ngày không có khách. Ông kể về đời mình, nỗi truân truyên cùng cực của một người cha sinh ra những đứa con không nguyên vẹn, khỏe mạnh. Ðôi mắt ông rơm rớm: "Tôi sinh năm 1952, bà nhà kém tôi hai tuổi. Chúng tôi là người cùng làng, yêu nhau từ hồi thanh niên. Ngay từ năm 1969 chúng tôi đã ăn hỏi rồi. Thú thực, ngày đó vợ tôi xinh lắm, tôi sợ mất. Rồi năm 1972 tôi đi bộ đội, đơn vị là Trung đoàn 29, từng đi chiến đấu ở Cam-pu-chia, rồi về tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam. Năm 1976, tôi cưới bà Hiển, rồi lại đi, cho đến tháng 12 năm 1977 mới phục viên"...
Khi mang thai lần thứ nhất, vợ ông bị sẩy. Năm 1978, bà tiếp tục mang thai và sinh đứa con đầu lòng. Ông bà đặt tên con là Nguyễn Kim Ơn. Ðứa trẻ tuy bụ bẫm, nhưng dù đã được sáu tháng tuổi, vẫn không biết cầm bất cứ thứ đồ chơi nào. Ông Khướng chua sót kể lại: "Tôi như muốn ngất lịm đi khi biết cháu không thể nhìn được. Nó mù bẩm sinh. Trời ơi, lúc đó tôi nghĩ ông trời đang giáng họa vào vợ chồng chúng tôi. Cái tên Ơn là để cầu mong trời ban cho ơn an lành khác. Con tôi chậm lắm. Nếu là đứa trẻ khác, đưa vào tay cái gì nó cũng cầm. Ðằng này, tôi đưa vào tay nó cái gì nó cũng rửng rưng như không".
Ông bà Khướng - Hiển lúc đó tủi cực vô cùng. Cũng là những người sinh con, người ta thì sinh ra đứa trẻ mắt sáng, còn vợ chồng mình sinh ra đứa con chẳng thấy được ánh mặt trời. Hai vợ chồng bảo nhau, có gì trong nhà bán hết, đưa con đi các bệnh viện để chữa trị. Nhưng đôi mắt của Ơn vẫn tối xầm, không mảy may thuyên giảm. Tim ông bà như tan nát. Những hy vọng lại được nhen nhóm, khi bà Hiển tiếp tục mang thai và sinh con vào cuối năm 1980. Bao nhiêu chờ đợi, hồi hộp, hy vọng lại trở thành một nỗi ê chề, hoảng loạn. Lại một đứa con không thể nhìn thấy ánh mặt trời. Ðứa bé cùng chung số phận với anh nó. Vợ chồng ông Khướng ôm nhau khóc. Rồi lại bảo nhau cố gắng nuôi con, đặt tên con là Huyền. Nhìn hai đứa con tuy bụ bẫm, xinh xắn, nhưng chẳng biết dùng đồ chơi, chẳng thấy đường mà bò. Ông Khướng đã có lúc không muốn sống nữa. Nhưng nếu ông không sống thì vợ ông sẽ ra sao, hai đứa con ra sao? Gia đình, hàng xóm động viên, ông và vợ tích cực nuôi con và lại hy vọng. Hy vọng của ông là cố đẻ cho được một đứa con lành lặn. Vợ ông chịu khó đi lễ chùa, cầu khấn.
Lần sinh thứ ba, được một bé gái mắt sáng. Ông bà khấp khởi mừng. Nhưng lớn lên một chút, đôi mắt bé lại mờ đi. Ông bà đặt tên con là Xuân. Bà Hiển năm sau mang thai và sinh con thứ tư. Lần này, niềm vui đã không mỉm cười với ông bà. Cô con gái út cũng mãi mãi chẳng bao giờ thấy ánh mặt trời. Ông Khướng bảo vợ dừng, không sinh nữa mà chịu khó đi làm ăn, nuôi con.
Ông Khướng đi phụ xây dựng, mãi cho đến năm 2000, sau một tai nạn, ông sợ độ cao, đành về mua xe máy làm nghề xe ôm. Bà Hiển trước đó làm giáo viên dạy lớp 1, vẫn buôn bán những đồ đan bằng tre để có thêm tiền nuôi con. Nhưng đến năm 1981, bà phải nghỉ vì đồng lương giáo viên quá ít ỏi. Bà tích cực với công việc buôn bán chổi chít, thúng mủng, nong nia... Dù vất vả nhưng hai ông bà vẫn cố gắng cấy mỗi vụ sáu sào để có thóc ăn. Những khó khăn gian khổ ngày trước, bà Hiển bảo bây giờ không kể được. Nó chất thành núi, nó chảy thành sông. Bây giờ bà chỉ nghĩ đến việc làm cho tương lai.
Các con là niềm tự hào
Năm lên chín lên mười, Ơn và Huyền được bố mẹ đưa lên học ở trường Nguyễn Ðình Chiểu, Hà Nội dành cho trẻ em khiếm thị. Rất nhiều người lầm, tưởng vợ chồng ông trốn trách nhiệm, đem con đi bỏ ở trại trẻ mồ côi. Lại phải nhọc lòng giải thích, có người tin người không. Vì biết các con chỉ khiếm thị, đầu óc vẫn minh mẫn, có thể theo học được, nên ông bà phải cho các con cái chữ. Cảnh nhà thiếu thốn, ông Khướng thường phải chở gạo đến nhà bếp của trường, quy ra tiền, nhờ các thầy cô chăm cho con mình. Ðể trả ơn cha mẹ, Ơn và Huyền chăm ngoan, học giỏi. Học xong cấp III, Ơn và Huyền đã thi vào đại học. Ơn đỗ Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia), Huyền đỗ vào khoa Văn trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tốt nghiệp ra trường, Ơn xin vào Trung tâm Nghệ thuật Tình thương, do bác sĩ Nguyễn Tài Thu tổ chức. Anh là một ca sĩ kiêm kéo đàn nhị cho người khiếm thị ở các tỉnh, nay đây mai đó. Nhưng tiền lương cũng được gần hai triệu đồng, đủ để anh trang trải cuộc sống và giúp đỡ bố mẹ lo cho cô em út. Còn Huyền, sau một thời gian theo anh trai đi hát, dẫn chương trình, mới đây, cô đã xin vào dạy ở Trung tâm Hội người mù Hà Ðông.
Riêng cô con gái thứ ba, Nguyễn Kim Xuân, không muốn cha mẹ lo lắng thêm cho mình, đã tình nguyện nghỉ học từ năm lớp 9. Ông Khướng nói: "Nó có hiếu lắm, nghỉ học là nó lấy chồng để tôi dồn vào chăm cho ba đứa con mù lòa kia. Nếu có điều kiện, tôi tin nó học cũng rất giỏi. Nhưng hoàn cảnh mà. Thương con chỉ biết nhói lòng".
Cô gái út của đôi vợ chồng cần mẫn là Nguyễn Kim Sen, sinh năm 1988. Dù khiếm thị nhưng cô quyết tâm và thi đỗ vào Học viện Âm nhạc quốc gia, chuyên ngành đàn tranh, khoa thanh nhạc. Nói chuyện với cô, tôi nhận ra cô rất thông minh và hiểu biết. Nguyễn Kim Ơn nói về em gái mình rằng: "Nó là đứa rất biết, ai gặp là quý liền. Vì nó nói chuyện hay lắm, chẳng như em". Khi tôi hỏi Ơn, con cả của ông bà Khướng - Hiển rằng, anh nghĩ thế nào về cha mẹ mình. Ơn nói: "Cả đời này anh em chúng em không trả hết công ơn cha mẹ. Dù sinh ra chúng em không có đôi mắt sáng, nhưng đó không phải lỗi của bố mẹ chúng em".
Nói đến các con mình, ông Khướng tự hào rằng, đó là những đứa con ngoan, hiếu thuận và lúc nào cũng lo cha mẹ buồn. Ðó là những niềm vui sướng không tiền nào mua được. Có đôi lúc, vợ chồng ông tâm sự với nhau rằng, tiền tỷ cũng chẳng mua được đôi mắt sáng cho mỗi đứa, nhưng ngược lại, có tiền tỷ cũng chẳng mua được tình cảm của chúng dành cho hai người. Ông Khướng mang giấy khen của con mình ra khoe, đó là phần thưởng của con, mà giống như phần thưởng của ông vậy.
Khát vọng
Mãi đến năm 1986, ông Khướng mới có kết luận của bác sĩ là mình bị nhiễm chất độc da cam. Hỏi ông tại sao không đi khám ngay từ khi sinh ra đứa con đầu không thấy ánh sáng, ông nói lúc đó mình cứ cuống lên, chẳng nghĩ ra chuyện gì. Với lại biết mình bị nhiễm chất độc da cam, nhưng do mất giấy tờ, nên chẳng biết làm sao. Lúc này, ngồi nói chuyện với người đàn ông khắc khổ, tôi hình dung ra, chỉ lát nữa thôi, khi tôi về thì ông sẽ ra bến xe Hà Ðông, lao vào giữa những tranh chấp, níu kéo để giành khách cho mình, và kiếm về vài chục nghìn đồng mỗi ngày. Nghe ông nói, tôi thật dễ hình dung ra nỗi vất vả của một người đàn ông 57 tuổi, ngày mưa tháng gió lúp xúp trong chiếc áo bạc sờn, ngồi chờ khách mà cố giấu đi cái dáng mỏi mệt của người bị nhiễm chất độc. Ông bảo, mỗi khi trái nắng trở trời, người ông lại đau nhức, chưa kể những cơn sốt rét đến giờ vẫn hành hạ.
Ai từng nhìn cảnh các lái xe ôm bắt khách ngoài bến, sẽ hiểu được công việc của ông Khướng cơ cực thế nào. Mắt đã mờ và chân đã chậm, làm sao ông giành khách được với những người trẻ tuổi. Nói về công việc này, ông Khướng xua tay: "Các cậu sẽ chẳng tìm thấy nghề gì cơ cực hơn đâu. Nắng mưa, rét mướt, bụi bặm, trầy trật. Lại phải có kỹ thuật, có chuyên môn giỏi mới tranh được khách, không thì đói". Dầu vậy, ông vẫn kiếm được mỗi tháng hơn một triệu đồng. Còn vợ ông, bà Hiển vẫn hằng ngày đảm trách công việc của đoàn thể địa phương, rồi buôn bán vặt, để có tiền chi tiêu trong gia đình. Mới đây các cụ cao tuổi và người dân địa phương lại tín nhiệm bầu bà vào ban chấp hành người cao tuổi. Hàng xóm, láng giềng rất nể trọng nghị lực vươn lên của gia đình ông Khướng. Với hàng xóm, họ sống hòa đồng, nhường nhịn và biết giúp đỡ người khác. Ông Ðặng Ðình Quang, trưởng thôn Bắc Lãm nhận xét: "Dù hoàn cảnh khó khăn, ba con bị khiếm thị bẩm sinh, nhưng vợ chồng ông Khướng vẫn vượt khó khăn, nuôi dạy các con nên người. Thật đáng khâm phục". Phải chăng chính khát vọng âm thầm và bền bỉ ấy đã nâng bước vợ chồng ông vượt qua những tháng ngày tưởng như không thể, dìu đỡ các con về miền sáng...