Hỏi: Xin cho biết đối tượng và điều hiện để được vay vốn của tổ chức tín dụng cho các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Trả lời: Theo Thông tư số 10/2006/TT-NHNN ngày 21-12-2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức tín dụng cho khách hàng vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9-8-2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì các tổ chức tín dụng sẽ xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng đáp ứng đủ các điều kiện:
- Có dự án đầu tư không thuộc danh mục các lĩnh vực bị cấm, hạn chế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
- Có đủ các điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và chuyển vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài quy định tại Điều 4, khoản 1 Điều 23 Nghị định số 78/2006/NĐ-CP.
- Có đủ các điều kiện vay vốn quy định tại điều 7 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Có vốn sở hữu (bao gồm vốn của chủ sở hữu, các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối) tham gia vào tổng mức vốn đầu tư của dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của tổ chức tín dụng.
Cũng theo Thông tư số 10/2006/TT-NHNN, khách hàng vay vốn là các nhà đầu tư bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi.
.......................................
Trường hợp đổi, cấp lại đăng ký, biển số xe
Hỏi: Đề nghị cho biết những trường hợp nào thì phải đổi lại đăng ký, biển số xe?
Trả lời: Theo quy định tại Thông tư của Bộ Công an số 01/2007/TT- BCA – C11 ngày 2-1-2007 thì những trường hợp sau phải đổi lại đăng ký xe, biển số xe: Xe cải tạo; xe thay đổi màu sơn; đăng ký xe bị rách, hư hỏng, mờ. Chủ xe đề nghị đổi đăng ký xe, biển số xe phải có công văn đề nghị (đối với cơ quan, tổ chức) hoặc đơn cam đoan (đối với cá nhân) và phải nộp lại đăng ký hoặc biển số xe cũ và không bắt buộc phải mang xe đến để kiểm tra (trừ xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn).
Trường hợp cấp lại đăng ký, biển số xe bị mất: Chủ xe bị mất đăng ký, biển số xe phải có văn bản đề nghị cấp lại, không phải mang xe đến cơ quan đăng ký xe. Nếu đủ giấy tờ theo quy định thì giải quyết cấp lại đăng ký xe, biển số xe; trường hợp loại biển ba số thì đổi sang biển bốn số theo quy định.
Chủ xe là cán bộ chiến sĩ bộ đội, công an xuất ngũ hoặc chuyển công tác; học sinh ,sinh viên ra trường nếu đã thay đổi địa chỉ, nơi công tác thì được giải quyết cấp lại theo địa chỉ thường trú hoặc tạm trú có thời hạn ở nơi mới.