Điểm mới về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) 2015 đã có một bước chuyển cơ bản, mới mẻ về chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại, đương sự theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong xu thế phát triển đất nước và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế.

Mở rộng thời điểm luật sư tham gia

Ngoài người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS 2003, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã đề nghị bổ sung “người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố” (thường được gọi là nghi phạm trong giai đoạn “tiền tố tụng”), “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” có quyền tự bào chữa, bảo vệ hoặc nhờ người bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình, được quy định tại điểm (e) khoản 1 Điều 57 và điểm (g) khoản 1 Điều 58 Bộ luật TTHS 2015.

Quy định này không chỉ mở rộng thời điểm luật sư có thể tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, mà còn khắc phục tình trạng nhiều cá nhân bị Cơ quan điều tra triệu tập đến ghi lời khai, thực hiện một số biện pháp như tạm giữ người qua đêm, thu giữ hộ chiếu và ngăn chặn xuất cảnh, cấm đi khỏi nơi cư trú (thực chất là các biện pháp hành chính tố tụng nhằm hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại) nhưng lại không được sự tham gia hỗ trợ về mặt pháp lý của luật sư.

Trong Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định “người bị kết án đang chấp hành hình phạt đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật có quyền xin khiếu nại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm và khi xét thấy cần thiết, Tòa án phải triệu tập người bào chữa tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm”. Liên đoàn đã đề nghị “người bị kết án” nằm trong diện chủ thể hưởng quyền bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong quá trình xem xét lại bản án có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Bộ luật TTHS 2015 lần đầu quy định trình tự, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, cho nên pháp nhân đến lượt mình cũng là chủ thể được hưởng quyền bào chữa, bảo vệ quyền lợi của mình.

Quy định này mở ra cơ hội rất lớn cho sự tham gia của các luật sư, nhất là các luật sư trẻ đang khao khát có những tích lũy kinh nghiệm tham gia trong các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị buộc tội.
Theo quy định tại điểm (h) khoản 1 Điều 435 Bộ luật TTHS 2015, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa cho pháp nhân. Ngoài ra, đối với những trường hợp người bị buộc tội mà khung hình phạt cao nhất đến 20 năm tù, tù chung thân, tử hình, theo điểm (a) khoản 1 Điều 76 Bộ luật TTHS 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chỉ định người bào chữa.

Thể chế hóa nội hàm “quyền im lặng” phù hợp điều kiện

Năm qua, liên quan vấn đề “quyền im lặng” của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đã có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS 2003.

Bộ luật TTHS 2015 không định danh tên gọi là “quyền im lặng”, nhưng nội hàm của khái niệm này có tác động đến vai trò quan trọng và sự hiện diện của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng.

Vấn đề thể chế hóa quyền im lặng với góc độ là quyền con người, có mối quan hệ chặt chẽ với quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm cho phù hợp điều kiện lịch sử xã hội, văn hóa, truyền thống pháp lý và mô hình TTHS Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là đòi hỏi khách quan của yêu cầu bảo vệ quyền con người trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

Điều này thể hiện trên các phương diện: Theo quy định tại điều 15 Bộ luật TTHS 2015 về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, người bị buộc tội có quyền không buộc chứng minh là mình vô tội.

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ngoài các quyền liên quan việc thông báo các quyết định và lý do bị tạm giữ, bị bắt tạm giam đều được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; tự bào chữa, nhờ người bào chữa (các điều 58, 59, 60, 61)... Quan trọng hơn, Điều 98 Bộ luật TTHS 2015 đã quy định rõ về lời khai của bị can, bị cáo, khẳng định “lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội”.

Như vậy, ngay cả trong trường hợp nếu bị can, bị cáo nhận tội vì bất cứ lý do gì nhưng lời nhận tội đó không phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án thì không đủ căn cứ buộc tội, kết tội bị can, bị cáo.

Nội hàm của quyền này còn bao hàm là nghĩa vụ của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này. Theo khoản 2 Điều 183 Bộ luật TTHS 2015, trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này, việc này phải được ghi vào biên bản.

Về diện chủ thể người bào chữa, ngoài luật sư và bào chữa viên nhân dân, khoản 2 Điều 72 Bộ luật TTHS 2015 đã quy định hai diện chủ thể mới là “trợ giúp viên pháp lý”, trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý, và “người đại diện của người bị buộc tội”.

Có thể bạn quan tâm