Bài 1. Đất của những hố bom
Thời điểm ác liệt, máy bay Mỹ giội bom vào con đường đi qua Cù Bai (xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị) suốt ngày đêm. Đất nát bởi bom, đến con kiến cũng khó sống. Bộ đội phải bỏ “cửa tử” Cù Bai, mở một đường xương cá khác để đi từ Trường Sơn Đông sang Trường Sơn Tây.
Gần cuối tháng 4-2009, từ tỉnh Hòa Bình, một số người đã đến tỉnh Quảng Trị, đi thẳng lên đường Hồ Chí Minh với bản sơ đồ vẽ tay. Sau thời gian tìm kiếm với sự giúp đỡ của dân bản Cù Bai, họ đã đến dưới chân núi sát “cửa tử”. Những phiến đá thực địa trùng với vị trí đánh dấu trên bản đồ… Nhưng khi tưởng đã được chạm tay bốc hài cốt liệt sĩ đưa về quê, thì ở nhà, bố của người đã khuất lại đột ngột giã từ cuộc sống, không kịp đón đứa con lưu lạc hơn 30 năm.
Những hố bom còn sót lại trên đất Cù Bai.
Một lần nữa, những giọt nước mắt lại đổ xuống Cù Bai. Nước mắt tìm được người thân, hòa chung với nước mắt tiễn biệt người cha vừa mất. Họ gạt lại lớp đất đang đào dỡ, trở về quê phục tang cho bố. Theo phong tục địa phương, liệt sĩ đành nằm lại, chờ thêm một năm.
Chuyện của những người đến trước tôi ít hôm qua lời kể của Trương Thế Vĩnh, trưởng trạm biên phòng Cù Bai tuy ngắn ngủi, nhưng cảm động. Gần 35 năm sau chiến tranh, khoảng thời gian đủ dài để một đứa trẻ đủ phát triển thành người trưởng thành, nhưng nỗi đau sau chiến tranh vẫn còn nằm lại.
Ở Trường Sơn, có bao nhiêu người giờ này vẫn còn nằm dưới những tán rừng như anh? Có bao nhiêu người còn thi thể, bao nhiêu người đã hóa thành cát bụi?
Ngày giỗ chung của bản
Đêm trên đồn Cù Bai, anh lính biên phòng trở dậy cùng tôi đến Bia ghi danh 13 liệt sĩ công an vũ trang. Họ là những người tham gia chiến đấu bảo vệ, thống nhất đất nước cùng dân tộc khi còn rất trẻ. Giữa những năm ác liệt, sự hy sinh của họ đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội ôm súng lao về phía trước.
Già bản Hồ Xừn đêm nay cũng không ngủ. Giống tôi và anh lính trẻ, ông đã tìm đến đây. Cạnh những hố bom nằm chồng lên nhau, có cái kéo dài như những chiếc giao thông hào thời chiến, già Hồ Xừn kể: “Hồi đó Cù Bai là chảo bom. Những thiết bị quân sự tối tân nhất đã phát hiện con đường xương cá qua Cù Bai nối Trường Sơn Đông sang Trường Sơn Tây chạy trên đất hạ Lào. Những trận bão bom đổ xuống suốt đêm ngày đã biến Cù Bai thành bình địa”.
Đã có nhiều chiến sĩ lái xe, bộ đội, thanh niên xung phong, dân quân hy sinh ngay vùng “cửa tử” trước khi một nhánh đường xương cá khác lại mọc ra thay thế. Nhưng những tuyến đường vòng cũng chỉ tồn tại được một thời gian rồi lại bị biến thành “cửa tử”. Cứ như vậy, ngày nối ngày, năm nối năm. Những “cửa tử” liên tiếp ra đời dọc dãy Trường Sơn như một dã tâm ngăn chặn, đánh phá và bẻ gãy ý chí chi viện của miền Bắc với miền Nam ruột thịt. Song, chính sự ra đời của những “cửa tử” chằng chịt Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn ấy đã chứng tỏ sự bất lực của phi nghĩa trước chính nghĩa, của vũ khí tối tân trước sức mạnh tinh thần, của đạn bom không cản được bước chân người- sự bất lực của dã tâm chia cắt trước quyết tâm thống nhất đất nước của toàn dân tộc Việt Nam.
Bom đạn đã làm những người lính này hy sinh hơn 2 lần.
Tôi thắp một nén hương cắm trước tấm bia vinh danh 13 liệt sĩ. Khói hương vẫn không đủ sức xua đi sương giá giữa rừng. Ngày họ mất, dân bản đã nhận họ làm con, đưa về chôn cất dưới chân núi. Nhưng sự khốc liệt của chiến tranh đã làm họ hy sinh thêm một lần nữa. Mộ phần không còn. Thân thể của họ đã hòa vào đất, tỏa vào rừng, tan vào sông suối bởi sự cày xới của đạn bom.
Sau tiếng thở dài, anh lính biên phòng nhặt hòn đất đặt lên lòng bàn tay. Hòn đất rất nhỏ, nhưng sau câu chuyện, tôi thấy nó đã mang một ý nghĩa thiêng liêng. “Bây giờ họ đã có ngày giỗ chung”- Trương Thế Vĩnh cất tiếng, phá vỡ bầu không khí như cô đặc đến nghẹt thở: “Bà con dân bản chọn ngày 3-3 hằng năm để giỗ những người con đã khuất. Sau lễ cúng, toàn bộ 86 hộ dân trong bản lại tỏa về nhà lấy cuốc, xẻng dọn sạch từng khoảnh đất, như người ở đồng bằng đi tảo mộ”.
Kể lại chuyện này, tôi lại day dứt bởi câu hỏi sơ suất có phần thiếu tế nhị của mình: “Lễ giỗ do bà con tự tổ chức, hay cán bộ biên phòng tổ chức rồi mời bà con hưởng ứng?”- Sau cái trợn mắt của già bản, tôi biết mình đã sai. Không ai có thể kêu gọi cả cộng đồng làm việc này, ngoại trừ “mệnh lệnh” từ trái tim của chính họ.
Sau gần 35 năm, Cù Bai vẫn còn tiếng bom.
Núi trọc và tiếng nổ trong thời bình
Sau gần 35 năm sau chiến tranh, Cù Bai bây giờ đã có một “bộ mặt” khác. Từ vùng đất chi chít hố bom, bây giờ Cù Bai đã trở thành thung lũng tương đối trù phú với những dãy nhà sàn san sát, những con đường đất rợp bóng cây và đến chiều từng đàn trẻ nhỏ lon ton theo chân cha mẹ ra tắm ở những vòi nước dẫn về từ trên suối. Thống kê của xã cho thấy, trong bản đã có hộ nuôi gần 80 con trâu, có hộ làm chủ của hơn 30 con bò và hầu như nhà nào cũng có 1- 2 sào ruộng nước. Số hộ nghèo ở Cù Bai bây giờ chỉ còn 30%, ti vi, xe máy thì trung bình hai hộ có một chiếc.
Ngày ở Cù Bai, tôi đã đi quanh bản, leo lên từng nếp nhà sàn để hít căng lồng ngực mùi thơm của ngô mới. Cù Bai đang chuyển mình rất mạnh, đã có người dưới xuôi lên đây lập gia đình để cùng bà con vỡ đất trồng rừng. Vài năm gần đây, những quả đồi đã được đồng bào biến thành rừng kinh tế. Nhưng vẫn còn một số quả đồi trọc gần bản, đến nay vẫn còn phủ một mầu tím ngắt.
Chuyện với tôi, anh lính Trương Thế Vĩnh vẫn tắc lưỡi tiếc hùi hụi: “Để trồng cây, người dân Cù Bai dù đi khắp nơi để tìm đất nhưng vẫn không dám đến những quả núi trọc, sau chiến tranh đến nay cỏ vẫn chưa mọc lại. Thậm chí, họ không dám đặt chân lên ngọn đồi Tà-leng nằm cạnh bản. Cả nghìn hec-ta đất trên núi đến nay vẫn bị bỏ hoang bởi bà con sợ những quả bom đang ngủ yên dưới đất thức giấc”.
Nghe đến đây, tôi lại nhớ giọt nước mắt của ông Hồ Văn Quang - người dân trong bản. Năm 2006, bé gái 14 tuổi con gái ông đã lên quả đồi trọc này để rà tìm sắt thép phế liệu bán lấy tiền mua sách vở, không may đào nhầm bom bi. Sau gần 35 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc, dân bản lại nghe tiếng nổ vang lên ở vùng “cửa tử”. Bom đạn lại cướp thêm sinh mạng của một em bé.
(Tiếp theo )
DƯƠNG QUANG TIẾN