Ðêm biên giới Tây Nguyên

Hôm ấy, khi chúng tôi đến với các chiến sĩ biên phòng Ðồn 731 (còn có tên là Ya Lốp, một đồn mới thành lập, thuộc diện khó khăn nhất trong các đồn biên phòng tại xã Ia Mơ, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai) trời đã ngả sang chiều. Ðồn mới thành lập nên cái gì cũng thiếu, đặc biệt là nước. Chúng tôi chỉ kịp tiếp tế một chút thực phẩm và bây giờ đây đang có mặt tại một trạm gác tuềnh toàng của Ðồn Biên phòng 731. Trạm gác đơn sơ nằm heo hút nơi biên giới xa xôi trong một chiều ào ào gió chướng khiến những người đàn ông thoáng chút chạnh lòng. Từ thành phố Plây Cu lên đến đây hơn 100 ki-lô-mét, đường sá vẫn còn rất khó khăn. Ở dưới đó phồn hoa, tấp nập, xập xình. Ở nơi đây lặng lẽ, đơn sơ và im lặng. Nhiều nơi không có điện, nước phải gùi từ hàng chục cây số, cũng là thứ nước không được sạch, nhưng vẫn phải dùng. Những chiếc nồi đen nhẻm nằm úp ngược trên cái chạn gỗ đẽo gọt sơ sài càng tăng thêm vẻ khắc nghiệt của chốt. Ở đây có bốn cán bộ, chiến sĩ. Ba người đã có vợ. Trẻ nhất là binh nhì Rơ Chăm Sư người Jơ Rai hai mươi mốt tuổi quê ở Ia Zôm, Ðức Cơ, Gia Lai lấy cô vợ là Rơ Mah Phơm mới mười tám tuổi đang làm rẫy ở nhà. Gia đình Rơ Mah Phơm có bảy anh em, cứ đến mười tám, mười chín tuổi là lấy vợ lấy chồng. Ngày trước còn sớm hơn, có khi chỉ mười ba, mười bốn và điều đó đương nhiên gắn với đói nghèo. Nhìn chàng trai biên phòng bồn chồn trông ra phía ngoài vạt đồi thấp lố nhố những cây dầu, cây khộp, nơi ông mặt trời đang lặn xuống, tự nhiên trong tôi dâng lên một cái gì nghèn nghẹn. Những người lính đang trấn giữ biên cương mọi miền Tổ quốc có không ít người gia đình đang trong hoàn cảnh không dễ dàng gì mà thử thách lớn nhất chính là phải vượt qua chính mình. Cái sự vượt qua chính mình của chàng trai hai mươi mốt tuổi người dân tộc Jơ Rai trong lúc người vợ trẻ mười tám tuổi đang mỏi mắt và ngơ ngác ở nhà hẳn nhiên là không đơn giản. Và những người lính, trong đó có hàng nghìn người lính biên phòng, đang phải tự mình vượt qua những thử thách như vậy. Chắc chắn lẽ đương nhiên không phải ai cũng biết đến điều đó. Chốt dã chiến biên giới của Ðồn 731 có bốn cán bộ, chiến sĩ mang bốn quê hương hội tụ về đây. Trung úy Nguyễn Chí Thiết quê Sơn Tây, nơi xứ Ðoài mây trắng. Trung úy Nguyễn Văn Hảo quê Thanh Hóa và binh nhất Chu Ðức Xăm (người duy nhất chưa vợ) quê ở Măng Giang, Gia Lai, một vùng đất đầy sử thi và giặc giã. Ðối với những người lính ở đây, Tây Nguyên hôm nay là mảnh đất ấm lành với bàn chân của mọi người từ các nơi tìm đến. Trải bao thăng trầm, binh đao, giặc giã, đói nghèo và đổi mới, Tây Nguyên, nóc nhà của Ðông Dương nằm trên cao nguyên Nam Trung Bộ mênh mông nối nhiều thế hệ, sự giao tiếp của các tộc người được tăng lên qua các đợt di dân trong lịch sử, chủ yếu của người Việt ở phía bắc, đặc biệt thời phong kiến triều Nguyễn, rồi thời kỳ Pháp thuộc, thời Mỹ - ngụy. Khi đất nước thống nhất, các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên càng xích lại gần nhau, chung lưng đấu cật, đoàn kết một lòng xây dựng đất nước. Trong hàng trăm năm ấy, có biết bao thăng trầm, biến cải ở Tây Nguyên. Hôm nay, khi đối mặt ở vùng đất đầy sử thi, huyền thoại với mấy người lính trẻ trong một chiều biên giới, đột nhiên chúng tôi còn thấy một Tây Nguyên khác - một Tây Nguyên in hằn trên đôi vai người chiến sĩ, trong đó có những người chiến sĩ biên phòng.

Ðêm buông. Sương giăng dưới những tàn lá lúp xúp. Tây Nguyên đã rộng thì rừng Tây Nguyên ban đêm càng âm u, bất tận. Xa xa, thoảng tiếng mang tác trong những đợt gió mùa càng lúc càng thổi mạnh khiến mọi vật càng khô khốc. Gió mùa Tây Nguyên luôn là nỗi kinh hoàng của cây cối và con người. Những ngày giáp Tết, anh em ở đây vẫn đi bẫy thú rừng và xuống suối thả lưới bắt cá. Những tấm lưới trắng lao chao đung đưa trên vách gỗ tương phản, thậm chí lạ lùng với người mới đến. Tây Nguyên là vậy. Ở đây có hồ trên núi, có Ðam San đi đòi cưới con thần mặt trời, có Ti Ăng nhân vật sử thi Mơ Nông, có Giông nhân vật sử thi Ba Na, có Duông nhân vật sử thi Xê Ðăng với bao nhiêu huyền thoại. Huyền thoại gần vẫn rất nhiều. Ðó là "Sa khổng lồ, hồ ông Nhạc", chuyện về tướng Tây Sơn - Nguyễn Nhạc được nhân dân ủng hộ khởi nghĩa. Và thời chống Pháp, chống Mỹ thì nhân dân các dân tộc Tây Nguyên với bản lĩnh và bản năng chiến đấu của mình đã góp phần tạo nên những chiến công đậm chất huyền thoại. Ở đây còn có những chàng trai trăm miền khoác súng, trồng lúa, làm đường, bắc cầu, dạy chữ, dạy người, và sinh sôi, và ăn đời ở kiếp với Tây Nguyên. Trong ánh lửa vừa được mấy chàng trai trẻ đốt lên, mỗi người góp chung vào một gộc củi, một cành khô. Lửa bắt vào nhau, thè lưỡi liếm xèo xèo những miếng thịt rừng, cá suối và vun cao ấm áp. Lửa nhảy múa, reo vui. Lửa cười nơi đầu sông ngọn suối. Ở đâu có con người ở đó có lửa. Ở đâu có lửa, ở đó sự sống sinh sôi. Người Tây Nguyên có thói quen gọi gia đình không gọi là một nhà, mà gọi là một bếp. Người Tây Nguyên uống rượu tính bằng can, bằng ghè, bằng ché thì Bộ đội Biên phòng ở Tây Nguyên cũng thành thạo đường ăn nết ở như vậy. Ðến hôm nay, tỷ lệ con em Tây Nguyên trở thành Bộ đội Biên phòng đã khá nhiều. Họ đang làm chủ những vùng đất của mình, niềm tin và khát vọng của mình. Ai đó đang đọc những câu thơ về cuộc đời mình: Chốt biên phòng/ Ðường lên trời thì gần/ Ðường xuống chợ thì xa/ Mỗi lần tuần tra/Lính gỡ mây giăng đầy tiếng mõ. Chốt biên phòng/ Tiếng gió hú thì gần/ Tiếng suối reo thì xa/Ðồng đội chia nhau từng lon nước nhỏ. Chốt biên phòng/Cánh chim bay thì gần/ Vó ngựa thì xa... Tất cả chợt lặng đi, bâng khuâng nhìn lửa cháy.

Buổi sáng, khi ở bên Ðồn 729, đồng chí Bùi Xuân Túc, chính trị viên phó cho biết: Ðồn có năm đồng chí lấy vợ là người dân tộc thiểu số trên địa bàn. Ðó là cặp vợ chồng Trung úy Ðinh Công Thông, Nguyễn Vũ Lương, Lê Duy Toàn, Kơ Ô Thuy, Rơ Ô Soen với những người vợ Jơ-rai, Ê Ðê, Xu-đăng, Ba Na... Hai vợ chồng sinh con đẻ cái. Vợ dạy chữ, khám chữa bệnh, chồng vận động quần chúng. Tiếng là lấy vợ gần, có khi hằng tháng mới gặp nhau. Chàng trai Kinh bên cô gái Ba Na, Jơ-rai, Ê Ðê hay chàng trai Xu-đăng, Mơ Nông bên cô giáo Kinh xinh đẹp dạy chữ ở bản đã trở thành chuyện bình thường ở các Ðồn Biên phòng Tây Nguyên. Ðiều đó cách đây hai, ba mươi năm chắc ít ai ngờ đến.

Ðêm biên giới mọi thứ như đang sinh sôi. Ðây đó những triền hoa dong riềng, chuối rừng đỏ lựng, những rừng lá khộp chín thẫm, đây đó sót lại những vạt cúc quỳ vàng rực. Bên vách gỗ lán chốt sát đường biên những nhánh lan rừng thô mộc còn vương mùi rừng thẳm đang hé ra những nụ tròn đầy đong đưa trong ánh tàn than nhấp nháy. Và trên trời là sao đêm, muộn nhưng vẫn rất dày, dõi xuống sẻ chia với người lính biên phòng. Cũng không biết là ai nghĩ gì nữa. Tất cả đang như hòa mình với đất trời cây cỏ, mà miên man với những suy nghĩ của riêng mình.

Theo hành trình, chúng tôi đến với Ðồn 747 (Ðồn Po Heng) thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Ðôn, tỉnh Ðác Lắc. Ðây là một trong những đồn xa xôi và khó khăn nhất tỉnh. Ðường đi phải vòng vèo qua các vạt rừng, triền đồi, sông suối các huyện của tỉnh Ðác Nông. Dọc đường đi, bên rất nhiều Ðồn Biên phòng Ðác Nông, những đàn bò Tây Nguyên lúc lắc nối nhau tràn kín con đường 14C vốn rất xấu, khó đi. Chiếc xe U-oát cuốn bụi đỏ mù mịt. Trong xe, phóng viên và cán bộ tuyên huấn ai nấy đỏ khé những bụi, đồ đạc nhuộm kín một lớp bụi cao nguyên. Lạ lùng thay, hai bên đường, những dãy rừng già, phần nhiều trong số đó thuộc rừng quốc gia Y Zoóc Ðôn rất nhiều khóm bằng lăng lớn trắng muốt như tuyết, có những cây cao gần trăm mét không một mảnh bụi thanh thản đo cùng trời xanh, mây trắng bên xạc xào rừng khộp.

Ðồn 747 đối diện xã Krông Te, huyện Pách Chăn Ða, tỉnh Môn-đun-ki-ri (Cam-pu-chia). Trưởng đồn, Trung tá Nguyễn Hữu Phúc đi vắng. Hai Ðại úy Chính trị viên Phạm Công Khanh và Nguyễn Anh Tuấn Ðồn phó trinh sát niềm nở tiếp chúng tôi. Công việc rất nhiều. Phải quản lý hơn 15 km đường biên với quân số còn thiếu nên công việc lúc nào cũng bận bịu, nhất là khi con đường hành lang biên giới đang được tiến hành khẩn trương theo tiến trình ký kết của hai Chính phủ Việt Nam và Cam-pu-chia. Ngồi trò chuyện nơi biên cương, mọi người như gần nhau hơn. Bên bếp lửa, bên ấm trà xanh, chuyện dồn về ăm ắp, từ vợ con, làng xóm, từ tập tục, văn hóa đến tăng gia, sản xuất, rồi ước vọng riêng tư... trong mỗi người lính trẻ của các vùng đất trên cả nước đang ngồi sát bên nhau rì rầm, thủ thỉ.

Binh nhì Y Chung người dân tộc Ê Ðê, TP Buôn Ma Thuột hai mươi ba tuổi thú thực với chúng tôi là chưa có người yêu. Nhìn vẻ bẽn lẽn của Y Chung, có lẽ đó là sự thật. Sinh ra trong gia đình rất đông anh chị em với mười một người, học hết lớp 6, Y Chung xung phong đi bộ đội. Ðã ăn một cái Tết nơi tiền đồn xa xôi này với các đồng đội. Tôi hỏi Y Chung: "Bố mẹ khỏe không?". Mắt Y Chung khẽ chớp, bảo: "Mẹ đang ốm anh ạ". Tôi nhìn chàng trai Ê Ðê: "Sắp ra quân rồi, về lấy vợ cho mẹ vui, hết ốm. Hay là muốn ở lại quân đội". Cười bảo: "Muốn chớ! Nhưng hết nghĩa vụ rồi. Về đi làm, ở bộ đội ra dễ kiếm việc". Tôi vân vi nhìn những chàng trai trẻ, người Kinh, người Thượng tuổi đôi mươi đã gắn bó hai năm với Ðồn 749. Hai năm! Khoảng thời gian không dài nhưng đã đủ để tạo ra những thương yêu khó nói hết thành lời của đời người chiến sĩ. Một chàng trai Ê Ðê trạc tuổi hai mươi mang quân hàm binh nhất quê ở huyện Krông Pắk đang bối rối nhìn chiếc máy ảnh mà anh bạn đồng nghiệp giơ lên. Nụ cười của chàng trai dân tộc có nước da đen sạm và mớ tóc xoăn cháy khét cứa vào chúng tôi một sự khắc khoải, bồn chồn. Tôi buột miệng hỏi: "Ðã có vợ chưa?". Trả lời: "Mình chưa có!". Lại hỏi: "Ðã là đảng viên chưa?". Trả lời: "Mình chưa là đảng viên mà". Hỏi tiếp: "Có muốn là đảng viên không?". Trả lời: "Muốn chứ. Các anh mình là đảng viên, là cán bộ rồi. Ngày trước cũng là bộ đội". Tôi im lặng. Ði khá nhiều đồn, chúng tôi thấy một thực trạng là do thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự ngắn (mười tám tháng) nên mặc dù có nhu cầu và đã có sự phấn đấu của các chiến sĩ người dân tộc, sự quan tâm của lãnh đạo thì tỷ lệ được kết nạp Ðảng trong quá trình tại ngũ của anh em là chưa cao. Ðiều này là một thiệt thòi cần khắc phục ngay, bởi số anh em dân tộc sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự trở về nếu được kết nạp Ðảng sẽ là nguồn cán bộ cho vùng sâu, vùng xa rất tốt sau này.

Hiếm có một chuyến đi đến một loạt các đồn biên giới ở Tây Nguyên nên chúng tôi đã chọn những đồn xa nhất, khó khăn, gian khổ nhất. Nhiều đồn thiếu điện, thiếu nước trầm trọng và hầu hết nguồn nước không được sạch. Ðêm biên giới, khi ngủ ở các chốt, trạm của các đồn các tỉnh Tây Nguyên cũng là dịp chúng tôi nhìn ngắm Tây Nguyên, nhìn ngắm người lính biên phòng ở góc nhìn gần nhất.

Có thể bạn quan tâm