Những năm gần đây, hoạt động lễ hội đã được tổ chức có phần nền nếp hơn, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của đông đảo quần chúng nhân dân. Thông qua lễ hội, người dân thêm hiểu biết về truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc, từ đó nâng cao ý thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của đất nước. Tuy nhiên, năm mới đến, các nhà tổ chức và quản lý lễ hội lại hết sức bận rộn, lo ngại các hiện tượng tiêu cực của năm 2013 vẫn tồn tại như cảnh ùn tắc chen lấn xô đẩy trong đêm khai ấn đền Trần (Nam Định), lễ hội chùa Hương vào ngày chính hội, lễ hội Bà Chúa Kho, Phủ Dầy, Yên Tử,... Công tác bảo đảm an ninh trật tự ở một số lễ hội chưa được thực hiện tốt, vẫn còn xảy ra hiện tượng trộm cắp, móc túi hoặc các trò chơi mang tính cờ bạc trá hình như ở Hội Lim, đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh); tình trạng ăn xin, xóc thẻ, lên đồng vẫn còn diễn ra ở một số lễ hội như ở đền Đức Thánh Cả (Hà Nội); đền Mẫu (Lạng Sơn); hàng quán lộn xộn thậm chí bày bán cả thịt tươi sống bên cạnh nơi thờ tự như ở chùa Hương... Đó là những công việc cụ thể mà ban tổ chức nào cũng phải thường xuyên xử lý giải quyết để giữ không gian yên lành cho lễ hội. Nhưng có lẽ trở ngại nhất là những quan niệm sai lệch khi tham gia lễ hội. Nhiều người nghĩ rằng đến lễ hội là để cầu xin thánh thần phù hộ phát tài, phát lộc, thăng quan tiến chức. Người ta đua nhau sắm lễ thật to, đốt thật nhiều vàng mã. Cảnh tượng chen lấn đặt lễ mâm cao cỗ đầy, chồng chất trước bàn thờ, hương khói ngột ngạt, vái cả vào lưng nhau diễn ra ở hầu hết các đền, các phủ. Lại xảy ra tình trạng rất phản cảm khi nhiều người cài tiền, rải tiền lẻ lên tay tượng Phật, thả tiền xuống giếng, ao, hồ. Việc đổi tiền lẻ ở các lễ hội diễn ra rất nhộn nhịp. Những hành động như vậy đã làm mất không khí thiêng liêng của nơi thờ tự, hạ thấp ý nghĩa của tín ngưỡng, tâm linh. Một quan niệm sai lệch khác khi cho rằng đây là dịp để địa phương và nhân dân khai thác tăng nguồn thu nhập dẫn đến tình trạng thương mại hóa lễ hội. Từ xưa, trong lễ hội cổ truyền không thể thiếu việc mua bán sản phẩm độc đáo của địa phương và các món ăn đặc sản, điển hình là hội chợ Viềng (Nam Định) và các hội chợ miền núi. Các hoạt động mua bán đó vừa mang ý nghĩa văn hóa, phong tục vừa góp phần quảng bá những sản phẩm của địa phương. Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động này chỉ nhằm tới việc thu lợi. Khi coi lễ hội là dịp làm ăn, người ta bày ra đủ kiểu, đủ chiêu trò để thu tiền của khách thập phương. Hàng quán, nơi trông giữ xe, cho thuê phương tiện đi lại mọc lên như nấm, giá cả tăng vô tội vạ rồi còn ép buộc, bắt chẹt khách. Nguy hại nhất là lợi dụng tín ngưỡng để "buôn thần bán thánh" như "đặt lễ thuê", "khấn vái thuê", bói toán, đặt các hòm công đức tràn lan, tạo dựng các di tích mới để thu tiền công đức.
Những nhận thức lệch lạc ấy chính là nguyên nhân sâu xa gây nên những hành vi vô ý thức, vô văn hóa, những hiện tượng tiêu cực trong lễ hội. Vì vậy, để lễ hội phát triển lành mạnh, trước hết cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng, nhằm làm cho tất cả mọi người tham gia lễ hội có nhận thức đúng đắn, hiểu rõ giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền. Hiện nay, nhiều địa phương đã bắt đầu quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục. Các ấn phẩm văn hóa được chính quyền các cấp cũng như các di tích chú trọng phát hành với số lượng lớn, chủ yếu là sách giới thiệu về di tích, lễ hội, nhân vật được thờ tự để mọi người hiểu rõ hơn. Nhiều lễ hội đã có trang thông tin riêng để quảng bá hình ảnh và những quy định bắt buộc khi tham gia lễ hội. Một số địa phương vừa tuyên truyền vừa có biện pháp xử lý nghiêm hành vi sai phạm để các hoạt động dần đi vào nền nếp, ổn định.
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội có vai trò quyết định để lễ hội cổ truyền phát triển đúng hướng. Có những ý kiến cho rằng lễ hội cổ truyền xưa do "dân làm dân hưởng" cho nên cần cho chủ thể cộng đồng đứng ra tổ chức. Song với thực tế phát triển lễ hội rầm rộ như hiện nay, khi quy mô lễ hội không chỉ bó hẹp ở một làng quê nhỏ bé mà đã mở rộng rất nhiều với số người đến dự ngày càng đông thì rất cần đến sự quản lý của Nhà nước. Ban tổ chức quản lý cấp Nhà nước không chỉ định hướng cho sự phát triển đúng đắn của lễ hội cổ truyền mà còn giải quyết những công việc rất cụ thể mà cộng đồng dân cư không thể tự giải quyết như: đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống giao thông, bến bãi quy mô lớn như ở Yên Tử, Hội Lim, chùa Hương, đền Hùng, chùa Keo... Ban tổ chức còn huy động cả lực lượng liên ngành để giữ gìn công tác an ninh trật tự, giao thông, vận tải, y tế, thông tin truyền thông... có khi tới hàng trăm người tham gia. Công tác vệ sinh môi trường ở các lễ hội cũng diễn ra rất phức tạp, sau mỗi ngày hội phải thu dọn hàng chục tấn rác. Công tác tổ chức và quản lý lễ hội còn cần bám sát hơn nữa với cộng đồng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, nhất là những nghệ nhân lâu năm nhằm khai thác triệt để những giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền ở từng địa phương, tránh tình trạng chủ quan, áp đặt làm méo mó nguyên gốc của lễ hội như đã từng xảy ra ở một số nơi. GS, TS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội động di sản văn hóa quốc gia, đề xuất ý kiến rất đáng quan tâm: Văn hóa nói chung cũng như lễ hội nói riêng, bản chất của nó là đa dạng. Cùng là lễ hội nhưng mỗi vùng, miền, thậm chí mỗi làng có nét riêng, theo kiểu người xưa nói Chiêng làng nào làng ấy đánh/ Thánh làng nào làng ấy thờ.
Mỗi lễ hội đều có cốt cách, sắc thái riêng, cuốn hút khách thập phương đến với lễ hội làng mình. Tuy nhiên, ngày nay lễ hội đang đứng trước nguy cơ nhất thể hóa, đơn điệu hóa, hội làng nào, vùng nào cũng na ná như nhau làm thui chột đi tính cách đa dạng của lễ hội, du khách thập phương sau một vài lần dự lễ hội thì cảm thấy nhàm chán và không còn hứng thú đi chơi hội nữa. Để khắc phục nguy cơ này, đề nghị các địa phương, các làng trong khi phục hồi, phát triển lễ hội cổ truyền, nên cố gắng tìm tòi, khôi phục và phát huy các nét riêng độc đáo về văn hóa và lễ hội của địa phương mình, làng mình. Từ nhiều nét riêng độc đáo sẽ góp vào "Vườn hoa lễ hội" của chúng ta nhiều sắc hương hơn.