Nắng tháng 7 như vơi đi, bởi giọng nói nhẹ nhàng, hoài niệm của hướng dẫn viên Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế Nguyễn Thị Mùi: "Năm 1864, Vua Tự Ðức cho xây lăng như một hoàng cung thứ hai để thỉnh thoảng đến tiêu khiển giải sầu. Và chúng ta hẳn chưa quên hai câu thơ ai oán: "Vạn niên là vạn niên nào/Thành xây xương máu, hào đào máu dân" miêu tả sự lầm than khốn cùng của hàng nghìn người dân làm phu phen làm tạp dịch trong hơn một nghìn ngày (1864-1867) để xây nên một Lăng Tự Ðức trường tồn đến ngày nay". Suốt dọc con đường dẫn vào Lăng Tự Ðức, hướng dẫn viên Nguyễn Thị Mùi kể với chúng tôi rất nhiều địa danh trong lăng đều có chữ "khiêm" gồm: Ðiện Hòa Khiêm (nơi Vua làm việc và khi Vua chết thì thờ); Ðiện Lương Khiêm (Nơi ở của Vua); Minh Khiêm Ðường (nơi có sân khấu để Vua xem hát); Ôn Khiêm Ðường (Nhà kho); Hồ Lưu Khiêm; Ðảo Tịnh Khiêm; Xung Khiêm (Nhà để Vua làm thơ); Dủ Khiêm (Nhà thủy tạ bên hồ); hai cung Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện dành cho 103 người là vợ và cung tần mỹ nữ theo hầu khi Vua sống và khi Vua chết... Theo sử sách viết lại thì chữ "khiêm" ở đây, muốn thể hiện sự khiêm nhường của nhà Vua trước trời đất. Vậy nên, lúc đầu Vua Tự Ðức định lấy tên là Lăng Vạn Niên, thể hiện cơ nghiệp nghìn năm bền vững, nhưng khi có sự oán thán từ lòng dân, ông đã bỏ tên này, lấy tên Khiêm Lăng. Cũng thật tiếc là khi lăng chưa xây xong, thì Vua Tự Ðức đã băng hà. Tự Ðức là nhà thơ, nên 50 công trình với nghệ thuật kiến trúc cảnh quan trong lăng phản ánh phần nào tâm hồn nghệ sĩ của ông.
Ngày nay, dẫu đã cách xa hơn 100 năm, Dủ Khiêm vẫn giữ được vẻ đẹp thuần khiết, nhờ sen thơm tỏa hương ngào ngạt, cùng sắc hồng của hoa lấp ló bên lá sen xanh mướt mát trải rộng khắp mặt hồ. Lăng Tự Ðức bao gồm hai phần chính: Khu vực tẩm điện và khu vực mộ Vua. Trong vòng la thành còn có Lăng Lệ Thiên Anh hoàng hậu và Lăng Vua Kiến Phúc.
Ngay giữa Ðiện Hòa Khiêm là những bức tranh được vẽ trên kính, một loại hình đặc sắc thời Nguyễn, ghi lại cảnh sinh hoạt chốn cung đình, gồm những tòa lâu đài uy nghi tráng lệ, cảnh trời mây non nước với mầu sắc tươi rói, nét vẽ tài hoa nửa thực nửa hư, khiến người xem nhìn tranh mà tưởng như chốn bồng lai tiên cảnh. Trong lăng hiện còn tấm bia "Khiêm Cung ký" là lời tự thuật về cuộc đời và vương nghiệp do chính Vua Tự Ðức soạn trước khi ông mất tám năm, gồm 4.935 từ bằng chữ Hán.
Có thể coi đây là những lời "gan, ruột" của một ông Vua đã dám nhận tất cả lỗi lầm về mình trong 36 năm trị vì đất nước. Về nội dung trong bia, nhà Vua lý giải việc xây Lăng; sự day dứt để hoàng gia lục đục tranh giành ngôi báu; chuyện Vua không có con nối dõi do bệnh tật. Song, nỗi đau lớn nhất, khiến Vua Tự Ðức tự trách mình chính là không tìm ra kế sách đánh đuổi thực dân Pháp gìn giữ cơ nghiệp tổ tiên...
Leo qua 127 bậc thang, chúng tôi lên đến Lăng Vua Khải Ðịnh đặt trên triền núi cao. Ðây cũng là ông Vua xây lăng cuối cùng của triều Nguyễn. Cũng giống thời Tự Ðức, khi lăng chưa xây xong thì Vua Khải Ðịnh đã mất năm 1925, thọ 41 tuổi. Nơi đặt thi hài của Vua Khải định được đào sâu vào lòng núi 30 m. Tương truyền, với quan niệm "Sống tạm bợ, chết lâu dài" nên khi lên ngôi Vua, Khải Ðịnh đã cho xây lăng ngay. Và cũng theo quan niệm "trần sao, âm phủ vậy" nên ở phía bên trái của Lăng có sân chầu đủ cả voi, ngựa bằng đá. Hàng đầu là tượng bốn ông quan đứng ngang hàng với nhau gồm: hai ông quan văn đội mũ hình khăn xếp, tay áo dài và rộng khác hẳn hai ông quan võ tay cầm kiếm, quần áo nai nịt gọn gàng. Phía sau là tượng sáu người lính tay chắp ngang bụng đứng hầu nghiêm trang... tất cả đều toát lên sự thuần phục tuyệt đối.
Theo sử sách ghi lại, thì năm 36 tuổi, Vua Khải Ðịnh đã sang nước Pháp. Một kiến trúc sư người Pháp đã đúc tặng Vua Khải Ðịnh bức tượng đồng mạ vàng (tỷ lệ 1/1) mặc hoàng bào, để kỷ niệm chuyến đi Pháp đầu tiên của ông vào năm 1920. Hiện bức tượng đồng này được đặt trên mộ, cùng chín vòng hoa bằng sắt bày quanh ngôi mộ của Vua Khải Ðịnh do người Pháp đem viếng.
Trên đường trở về cụm di tích Hoàng thành Huế, chúng tôi được các hướng dẫn viên Hoài Nam, Nguyễn Thị Mùi, không chút giấu giếm kể về những thăng trầm của nghề hướng dẫn viên dẫn khách du lịch. Nghề này được ví như "làm dâu trăm họ". Có nhiều tiêu chuẩn đòi hỏi người hướng dẫn viên dẫn khách du lịch phải có. Ðó là sự mềm mỏng, dịu dàng, dẫu một ngày có đi bộ hàng chục cây số giữa trời nắng nóng và cho dù có gặp sự cáu giận vô cớ của khách tham quan, thì nụ cười vẫn luôn trên môi các nữ hướng dẫn viên để giữ "thương hiệu".
Song, quan trọng hơn cả là trình độ, kiến thức lịch sử. Nghề này không cho phép nhầm lẫn sai sót. Bởi khi tiếp xúc với du khách, đội ngũ hướng dẫn viên chính là cầu nối đưa người xem hòa nhập, hiểu về văn hóa Huế. Muốn làm nghề giỏi, hướng dẫn viên cần phải có vốn kiến thức đa dạng về mọi khía cạnh và phải yêu nghề. Họ cần phải yêu cái mình đang giới thiệu. Bởi không ai có thể làm cho người khác thích cái mà mình không quan tâm. Và có yêu Huế, yêu văn hóa Huế thì mới truyền được cái nhiệt tâm đó cho người khác.
Chúng tôi được xem chương trình nghệ thuật đặc sắc, do đội ngũ diễn viên Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Cung đình Huế biểu diễn. Các tiết mục đã tái hiện được quang cảnh chốn hoàng cung, gây ấn tượng khó quên với khách tham quan.Với song tấu trống, kèn "Mã vũ du xuân" chúng tôi nghe vẳng bên tai tiếng vó ngựa trong ngày xuân đi hội trên nền nhạc tươi vui rộn rã; Tiết mục múa quạt (Vũ phiếm) diễn tả cuộc sống của rất nhiều cung tần, vũ nữ sống cảnh giàu sang nhung lụa, nhưng là cung cấm, mấy ai có phúc để được nhà Vua cho vời cho gọi, nên tâm trạng họ luôn khắc khoải lo âu, mơ ước một cuộc sống hạnh phúc giữa đời thường; Ðiệu múa "Lục cúng hoa đăng" lung linh bởi vô số các ngọn nến trên tay các vũ nữ, được trình diễn vào dịp sinh nhật của Hoàng thái hậu, khi Vua mới lên ngôi hoặc trong triều đình có lễ trọng... Nhưng tiết mục khiến chúng tôi ấn tượng nhất là múa: Lân mẫu xuất lân con (Lân mẹ sinh con) tượng trưng cho cảnh gia đình hạnh phúc.
Nữ Nghệ sĩ ưu tú Bạch Hạc, Phó Giám đốc nhà hát đã giảng giải: "Trong nhạc Cung đình Huế, nếu không có hát thì gọi là nhã nhạc. Khác trong dân gian, lân cung đình chỉ có hai mầu là vàng và xanh. Lân mẹ mầu xanh tượng trưng cho sự dịu dàng, nết na. Lân bố mầu vàng, biểu tượng của chốn cung đình, là trang phục hoàng bào của Vua. "Cảnh múa diễn tả từ lúc lân mẹ mang thai, đến lúc vượt cạn, sinh con. Lân mẹ lăn lộn trong đớn đau nhưng với sự động viên của lân bố, mọi việc đã kết thúc bằng "Mẹ tròn con vuông". Khi tiếng nhạc trầm xuống, là tiếng thở mệt nhọc của lân mẹ lúc lâm bồn. Trên nền nhạc du dương ồn ã, động tác vui tươi hả hê của lân bố thể hiện niềm hạnh phúc vô biên, khi chú lân con sinh ra có mầu vàng giống bố... lúc này sân khấu bừng lên trong ánh sáng và tiếng nhạc tươi vui. Gặp chúng tôi ở cửa nhà hát, ông DAVE, giảng viên Ðại học Washington (Mỹ) cùng con gái (hiện lấy chồng và làm việc tại Việt Nam) thốt lên lơ lớ bằng tiếng Việt: "Chương trình này tuyệt lắm! Trang phục của các diễn viên rất đẹp".
Nữ nghệ sĩ Bạch Hạc khoe với chúng tôi: Nhà hát đã đi biểu diễn tại một số nước như Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp... được đông đảo người xem mến mộ và nhiệt liệt hoan nghênh".
Hiện nay Huế đang được xem là thành phố bảo tàng gồm: một cố đô bảo tồn khá hoàn hảo, một quần thể di tích dày đặc gồm di tích cung đình, di tích dân gian và di tích cách mạng. Khoảng thời gian những năm 1975, di tích Huế bước ra khỏi cuộc chiến tranh với sự hoang tàn, đổ nát... Một sự thay đổi kỳ diệu đã diễn ra: Di tích Huế bước ra khỏi bóng tối và sự lãng quên để trở thành thành phố di sản thế giới đầu tiên của Việt Nam. Sẽ không có sự thay đổi kỳ diệu này, nếu không có sự quan tâm của Nhà nước, của Chính phủ, của Ðảng bộ và nhân dân Thừa Thiên-Huế.
Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã tôn tạo, trùng tu và phục chế thành công nhiều công trình gồm: Ðiện Long An, Nhà hát Duyệt Thị Ðường (Ðại Nội), Ôn Khiêm Ðường, Chấp Khiêm Ðường; các chùa Thiên Mụ, Cung An Ðịnh, các cổng của kinh thành, hệ thống trường lang Tử cấm thành... giúp Huế hai lần đăng quang danh hiệu Di sản thế giới bằng di sản văn hóa Vật thể (quần thể di tích Cố đô năm 1993) và Di sản văn hóa Phi vật thể (Nhã nhạc cung đình Huế năm 2003).
Một con số bất ngờ, khiến chúng tôi ngạc nhiên là mỗi năm đội ngũ hướng dẫn viên của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã đón khoảng hơn 12 nghìn đoàn khách (khoảng hơn 2.000 đoàn khách nước ngoài), với 1.665 nghìn lượt khách tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh tại TP Huế. Nguồn thu từ vé tham quan năm 2006 là 60 tỷ đồng; năm 2007 là 76 tỷ đồng.
Dự kiến năm 2008, khách tham quan tại Huế sẽ tăng cao hơn và thu vượt mức kế hoạch (bốn tháng đầu năm 2008 đã thu hơn 30 tỷ đồng), góp một phần không nhỏ vào việc tăng trưởng tại tỉnh Thừa Thiên-Huế. Theo đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế: "Ðây quả là một đóng góp không nhỏ của hơn 700 cán bộ Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế. Ðáng ghi nhận là công sức của 309 nữ cán bộ, nhân viên làm công tác nghiên cứu tu bổ, trùng tu các di tích tại TP Huế; đội ngũ nữ hướng dẫn viên và nữ diễn viên Nhà hát nghệ thuật truyền thống Cung đình Huế, đã góp phần gìn giữ những di sản văn hóa quý giá của cố đô Huế".
Xa Huế, nhớ Huế đến nao lòng. Nhớ những gì rất Huế. Nhớ sự thân thương hiền hòa của người Huế và tiếng dạ ngọt ngào của nữ hướng dẫn viên luôn "để nhớ, để thương" trong lòng du khách, để một mai lại tìm về Huế. Ðó chính là nét giao hòa để cố đô Huế mãi đẹp và thơ.