Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng Ðề án tin học quản lý hành chính nhà nước (HCNN). Hầu hết các đề án được lập chưa sát với thực tế, nội dung của đề án đặt ra quá cao so với khả năng thực hiện về nguồn vốn đầu tư, hạ tầng cơ sở tin học, con người sử dụng, dẫn đến kết thúc giai đoạn I các đề án không hoàn thành được mục tiêu.
Ðơn cử: TP Cần Thơ có 13/19 dự án chưa triển khai với tổng mức đầu tư hơn 12 tỷ đồng, TP Hồ Chí Minh có tới 27/27 dự án chưa triển khai với tổng mức đầu tư 240 tỷ đồng. Công tác thẩm định đề án của Ban điều hành Ðề án 112 còn chung chung, sơ sài, chưa có định hướng về công nghệ thông tin (CNTT) cho các bộ, ngành và địa phương. Công tác thẩm định chưa nêu được nguyên nhân tăng, giảm vốn đầu tư, trình tự đầu tư, phân cấp nguồn vốn đầu tư... dẫn tới các bộ, ngành, địa phương rất lúng túng khi xác định nội dung đầu tư công nghệ thông tin, sử dụng sai phần cấp nguồn vốn đầu tư.
Mục tiêu đầu tiên của Ðề án 112 là "xây dựng hệ thống tin học hóa quản lý HCNN, phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo, điều hành trong hệ thống các cơ quan HCNN, hoàn thiện và thống nhất áp dụng các chương trình ứng dụng phục vụ quản lý điều hành".
Kết thúc giai đoạn 1, hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và hình thành bước đầu hạ tầng kỹ thuật CNTT như mạng LAN, trang thông tin điện tử..., nhưng chưa có hoặc chưa rõ nét một hệ thống thông tin phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo, điều hành trong quản lý HCNN.
Việc chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các bộ, địa phương qua hệ thống tin học hóa quản lý HCNN hạn chế. Thậm chí, đến nay một số địa phương chưa hoàn thành hạ tầng kỹ thuật tin học, nhất là các cơ quan hành chính cấp huyện. Ðiển hình là số mạng LAN được xây dựng tại Yên Bái chỉ được 16/49, Hải Phòng 28/40... Hầu hết các mạng LAN của các bộ, ngành đã được thiết lập để kết nối nội bộ. Nhiều mạng LAN đã kết nối với mạng diện rộng của Chính phủ, nhưng nội dung thông tin trao đổi trên mạng chủ yếu là tra cứu, giao nhận các văn bản, chưa thể hiện và đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, điều hành của các bộ, ngành, địa phương.
Ðến nay, mới chỉ có 3/48 phần mềm dùng chung (PMDC) triển khai diện rộng trên cả nước, nhưng đưa vào sử dụng kém hiệu quả. Ðã vậy, quy trình thiết kế, xây dựng PMDC còn dựa vào những quy trình thủ tục hành chính cũ, truyền thống, chưa chuẩn hóa được các hệ thống thông tin trước khi xây dựng. Mặc dù các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng được hệ thống thông tin điện tử cấp bộ, tỉnh trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật tin học của Ðề án 112, nhưng số hệ thống thông tin hoạt động còn kém hiệu quả, chủ yếu được xây dựng để phục vụ trao đổi thông tin nội bộ.
Hệ thống thông tin phục vụ điều hành tác nghiệp như quản lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, quản lý cán bộ... chưa được điện tử hóa nhiều và bảo mật chưa cao. Tại Văn phòng Chính phủ, đã xây dựng được Trung tâm tích hợp dữ liệu, nhưng không có cơ sở kết nối, không chuẩn hóa được thông tin, cho nên vẫn chưa hoạt động, mạng cục bộ không kết nối được với mạng diện rộng.
Với mục tiêu đề án đặt ra là "tổ chức xây dựng và tích hợp các cơ sở dữ liệu quốc gia", đến nay đã triển khai xây dựng 115 trung tâm tích hợp dữ liệu (THDL). Trừ một số bộ, ngành đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng và hoạt động nền nếp; các bộ, ngành còn lại mới ở giai đoạn đầu THDL. Các công việc thực hiện qua hệ thống máy chủ được trang bị chủ yếu là lưu trữ dữ liệu, tra cứu thông tin trên trang thông tin điện tử... Phần lớn các tỉnh, thành phố, bộ, ngành chưa tích hợp được thông tin để phục vụ công tác chỉ đạo, lãnh đạo, công tác điều hành, quản lý hành chính.
Ngoài ra, việc triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia quá chậm. Các dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia: Bộ Tài chính, Kế hoạch và Ðầu tư, Nội vụ, Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Thống kê mới xác định xong giải pháp khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu.
Riêng mục tiêu "tin học hóa các dịch vụ công nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc phục vụ nhân dân và doanh nghiệp", tại TP Hồ Chí Minh mới đang tiến hành thử nghiệm đối với các loại hình dịch vụ cấp phép đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà, cấp phép xây dựng... Một số bộ, ngành đang thử nghiệm cung cấp một số dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp như hải quan, thuế, hàng không...
Ðề án cũng đặt ra mục tiêu "Ðào tạo tin học, phổ cập công nghệ thông tin (CNTT) cho cán bộ lãnh đạo, chuyên viên và cán bộ nghiệp vụ của các cơ quan hành chính từ cấp huyện trở lên". Ban điều hành đã ký hợp đồng với các đơn vị mở các khóa đào tạo tin học và quản trị mạng cho các kỹ sư và chuyên viên. Tuy nhiên, việc phổ cập kiến thức CNTT còn nhiều hạn chế, chủ yếu do từng đơn vị thực hiện và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Việc đào tạo lãng phí, bất cập như đào tạo ồ ạt vào năm 2005-2006, không đúng đối tượng. Trong tổng số cán bộ được đào tạo, có cả cán bộ là viên chức thuộc cơ quan T.Ư đóng tại địa phương như tại Hà Giang có 100 học viên, Phú Thọ 82 học viên, Lào Cai 148 học viên. Mặt khác, do không phân loại trình độ cán bộ trước khi đào tạo, dẫn đến chất lượng đào tạo thấp, nhiều cán bộ sau khi đào tạo không làm được việc chuyên môn. Tại các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, có tới hơn 50% số cán bộ đào tạo quản trị mạng không đáp ứng được yêu cầu. Kết thúc giai đoạn đào tạo, số giáo trình không sử dụng, tồn kho tới 24.685 cuốn.
Mục tiêu cuối cùng của đề án là "thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, cải cách bộ máy tổ chức và lề lối làm việc trong cơ quan HCNN thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ...", nhưng thực tế cho thấy: Giữa tin học hóa quản lý HCNN và chương trình CCHC không gắn kết nhau. Do vậy, tin học hóa không thúc đẩy CCHC trong lĩnh vực quản lý HCNN, thủ tục hành chính và lề lối làm việc. Việc xây dựng các phần mềm của Ðề án 112 không lấy các nội dung CCHC làm cơ sở, nền tảng, do đó không có tác dụng là công cụ thúc đẩy CCHC.