Ðẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn

Tham gia tọa đàm có các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và một số tỉnh mà nông nghiệp, nông thôn chịu sự tác động mạnh của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Những ý kiến đó rất thiết thực bổ sung phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn của mỗi tỉnh và tổng kết 20 năm đổi mới phát triển nông nghiệp và nông thôn nước ta.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn là hướng đi tất yếu

Vùng kinh tế trọng điểm (KTTÐ) Bắc Bộ gồm tám tỉnh: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây. Tổng diện tích tự nhiên là 15.277 km2 (chiếm 4,64% diện tích cả nước) và dân số năm 2003 là 13,217 triệu người (chiếm 16,34% so với dân số cả nước). Vùng KTTÐ Bắc Bộ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thời kỳ 1996-2002 tốc độ tăng trưởng bình quân của toàn vùng đạt 8,8%, trong đó công nghiệp 11,4%, nông nghiệp khoảng 3%/năm và ngành dịch vụ tăng 9%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo đói giảm 3,3% (2001-2003), cơ cấu kinh tế của vùng có bước chuyển dịch rõ rệt. Nông, lâm, thủy sản giảm từ 15,42% xuống 10,96% nhưng vẫn ổn định cuộc sống cho hơn 72% số cư dân nông thôn. Công nghiệp, xây dựng tăng từ 30,46% lên 41,67% và dịch vụ giảm từ 54,12% xuống 47,37%.  Năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu của vùng đạt 3,27 tỷ USD (gấp 3 lần năm 1995), chiếm 19,4% về GDP, 21,66% về thu ngân sách, 19,58% về kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại các tỉnh kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Bắc Bộ, diễn biến sử dụng đất giai đoạn 1995 - 2003 có nhiều biến động. Năm 2003, diện tích đất nông nghiệp toàn vùng là 14.482 ha, tăng hơn năm 1995 nhưng lại giảm so với năm 2000 (16.587 ha). Ðất lâm nghiệp hằng năm tăng 2 - 3,36%/năm. Ðặc biệt, diện tích đất chuyên dùng tăng đột biến, giai đoạn 1995-2000 diện tích đất chuyên dùng tăng 3.621 ha, bình quân mỗi năm tăng 724 ha. Giai đoạn 2000-2003, đất chuyên dùng tăng 12.517 ha, bình quân mỗi năm tăng 4.172 ha. Ðất chuyên dùng tăng rất nhanh ở các tỉnh, thành phố như Hà Nội: một năm tăng gần 700 ha, Hải Phòng: 639 ha, Hưng Yên và Hải Dương mỗi năm tăng trên 500 ha. Còn Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hà Tây đều tăng khoảng 300 ha/năm. Riêng Quảng Ninh tăng 935 ha/năm. Một trong những nguyên nhân tăng đất chuyên dùng là do tăng diện tích đất ở các khu công nghiệp trong vùng. Tính đến hết năm 2002, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ  có 11 khu công nghiệp được thành lập đã chiếm diện tích đất: 1.704 ha. Ðất ở cũng tăng do quá trình đô thị hóa, do dân số ngày càng gia tăng. Ðất ở tăng nhanh ở các đô thị lớn trong vùng như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương. Giai đoạn 1995 - 2003, toàn vùng tăng 4.706 ha (riêng từ năm 2000 - 2003, tăng 2.284 ha).

Phân tích về biến động đất nông nghiệp toàn vùng cho thấy giai đoạn 2000 - 2003, đất nông nghiệp giảm 2.105 ha, trong đó đất cây hằng năm mà chủ yếu là đất lúa màu giảm 13.553 ha, đất nương rẫy tăng 243 ha, vườn tạp tăng 85 ha, đất cây lâu năm tăng 5.082 ha, đất nuôi trồng thủy sản tăng 5.983 ha. Ðây là giai đoạn biến động đất mạnh với quy mô khá lớn. Ðất lúa màu giảm nhiều do chuyển thành đất xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ.

Hiện nay tổ chức sản xuất trong vùng chủ yếu là nông hộ, có sự liên kết giữa các nhóm hộ. Toàn vùng có khoảng 1.778.279 hộ nông nghiệp, chiếm 76,2% số hộ toàn vùng (toàn quốc là 77,1%). Số hộ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ở Hải Phòng 3,4%, Quảng Ninh 6,3%, còn Hải Dương 0,9% và các tỉnh khác đều nhỏ hơn 0,5%. Số lao động chính trong lĩnh vực nông nghiệp của toàn vùng khoảng 3.933.757 người, chiếm hơn 75% so với lao động toàn vùng. Bình quân một hộ nông nghiệp có khoảng 0,327 ha đất nông nghiệp, 0,296 ha đất trồng trọt (2.966 m2). Nhìn chung đất nông nghiệp, đất trồng trọt cho một hộ nông nghiệp quá thấp so với nhiều vùng trong cả nước. Mô hình sản xuất tương đối có hiệu quả trong vùng là trang trại. Theo số liệu điều tra của Bộ NN&PTNT năm 2001, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có 1.914 trang trại; vốn bình quân của một chủ trang trại còn nhỏ (từ khoảng 100 - 200 triệu đồng/ trang trại).

Các tỉnh trong vùng có hơn 400 làng nghề, chiếm một phần tư số làng nghề cả nước, thu hút nhiều lao động và góp phần tăng thu nhập cho kinh tế hộ nông dân. Các nghề truyền thống chính là dệt, thêu ren, mây tre đan, gốm sứ, chế biến nông sản thực phẩm, cơ khí rèn, đúc sửa chữa, đồ gỗ gia dụng với nhiều hình thức tổ chức đa dạng. Nhiều làng nghề sử dụng nguyên liệu tại chỗ, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất của vùng, và bước đầu hình thành các khu tập trung làng nghề.

Hiện nay, ở Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh đã thử nghiệm chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao, bước đầu có kết quả khả quan như khu công nghệ cao tại xã Mỹ Ðức (Hải Phòng), khu công nghệ cao trồng hoa tại huyện Từ Liêm (Hà Nội). Ngoài ra, ở Bắc Ninh đã triển khai mô hình nông nghiệp áp dụng công nghệ cao với tổng đầu tư 9,4 tỷ đồng.

Như vậy, theo các chỉ tiêu mà Nghị quyết 10 của T.Ư đề ra giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của ngành nông nghiệp toàn vùng gấp 1,3 lần so với quy hoạch (5,2% so với 4%). Riêng nông nghiệp 5%, thủy sản đạt 10,4% còn lâm nghiệp giảm 3,4%/năm ở giai đoạn 1995-2003. Ðã xác định đúng các loại sản phẩm chính để tập trung đầu tư như: Rau, hoa, lạc, đỗ tương, lúa thâm canh, chăn nuôi lợn, gia cầm và phát triển nuôi trồng thủy sản. Bình quân sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra/nhân khẩu chung của vùng: Thóc 303 kg, rau đậu 130 kg, quả 30 kg, thịt các loại 38 kg đã góp phần ổn định cuộc sống nhân dân trong vùng và có sản phẩm hàng hóa xuất khẩu.

Tham dự tọa đàm, đại diện Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh có những tham luận nêu bật những thành tựu đạt được trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương mình. Ông Nguyễn Văn Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc, cho biết: Giai đoạn 2000-2004, Vĩnh Phúc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 16,6%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp - xây dựng tăng mạnh đạt 49,74%; nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 24,09%; dịch vụ 26,17%, thu hút đầu tư mạnh, đạt hơn 400 dự án với số vốn đầu tư hơn hai tỷ USD. Thu ngân sách năm 2004 đạt gần 2.400 tỷ đồng. Ngày 20-11-2002, UBND tỉnh triển khai đề án về chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001-2005. Sau hơn bốn năm triển khai thực hiện, đã có bước phát triển mới cả về chất và lượng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 7,37%/năm. Tỷ trọng trồng trọt giảm dần từ 71,32% (năm 2000) xuống còn 61,18% (năm 2004), chăn nuôi tăng 25,24% lên 34,9%... Quan trọng hơn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Vĩnh Phúc đã từng bước làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của nông dân, làm cho họ năng động trong sản xuất theo phương thức sản xuất công nghiệp.

Ông Lê Văn Dưỡng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hải Dương, cho biết: Ngay từ đầu nhiệm kỳ giai đoạn 2001 - 2005, Tỉnh ủy Hải Dương đã chỉ đạo xây dựng năm đề án trọng điểm về phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ðó là các đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm đạt giá trị sản xuất 36 triệu đồng/ha canh tác/năm; phát triển chăn nuôi, thủy sản; kiên cố hóa 850 km kênh mương; chuyển ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Ðến nay, hầu hết các chỉ tiêu của năm đề án đều đạt và vượt so với kế hoạch đặt ra do được đầu tư tập trung, góp phần đưa sản xuất nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao và đều qua các năm. Cơ cấu nông nghiệp đã có tiến bộ rõ theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản. Năm 2005, tỉnh ước đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 5,3%, giá trị mỗi ha canh tác đạt 36,2 triệu đồng. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn cũ chỉ còn 5,2%. Có một bộ phận nông dân đã tích lũy từ nông nghiệp và mạnh dạn đổi mới cơ cấu sản xuất, đầu tư vào sản xuất, dịch vụ và sáng tạo ra nhiều mô hình sản xuất đạt giá trị cao. Ðến nay toàn tỉnh đã có 15,5% diện tích đạt tiêu chuẩn cánh đồng 50 triệu đồng/ha. Cũng do chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa như: Vải thiều (Thanh Hà, Chí Linh); dưa hấu, rau ngắn ngày, củ đậu (Kim Thành, Gia Lộc); gạo nếp (Kim Thành, Kinh Môn), hành tỏi (Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn); cá, ba ba (Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Kim Thành). Toàn tỉnh hiện có hơn 6.700 hộ nuôi gia cầm kiểu công nghiệp quy mô 100 con trở lên (trong đó có hơn 300 hộ nuôi quy mô 1.000 con trở lên). Có 2.880 hộ nuôi đặc sản thủy sản, toàn tỉnh có 603 trang trại (bằng 352% so với năm 2001) quy mô bình quân 4,4 ha/trang trại, tạo ra giá trị sản xuất bình quân 210 triệu đồng/trang trại/năm.

Ông Nguyễn Sỹ, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Ninh, cho biết: Cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự thay đổi tích cực. Năm 1986, thu nhập từ nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng 46% GDP, năm 2005 chỉ còn 25% GDP. Toàn tỉnh hình thành được 13 vùng sản xuất lúa hàng hóa, hai vùng nuôi bò sữa, năm vùng nuôi lợn thịt hướng nạc, bốn vùng nuôi trồng thủy sản và một vùng khoai tây có quy mô lớn. Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trồng trọt chiếm  57,8%, chăn nuôi chiếm 38,5%, dịch vụ chiếm 3,7% (toàn quốc: trồng trọt chiếm  74,5%, chăn nuôi chiếm 22,4%,  dịch vụ chiếm 2,2%). Hệ thống hạ tầng của các xã được nâng cấp, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi mới theo hướng CNH, HÐH.

Ông Chu Văn Thưởng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây nhấn mạnh: Sau hơn bốn năm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Hà Tây đã đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản: Giai đoạn 2001 - 2003, bình quân tăng 6,57%/năm. Năm 2004 tăng 5,49% so với 2003, bình quân bốn năm tăng 6,3%/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản trên một ha đất nông nghiệp đạt 49,05 triệu đồng, tăng 16,15 triệu đồng so với năm 2000. Giá trị sản xuất trồng trọt trên một ha đất canh tác đạt 28,31 triệu đồng, tăng  5,91 triệu đồng so với năm 2000. Trong sản xuất nông nghiệp,  năm 2000, trồng trọt chiếm 66,32%; chăn nuôi, thủy sản  33,68%. Ðến năm 2004, trồng trọt  56,49%, chăn nuôi, thủy sản   43,51%.

Ông Lê Quốc Doanh, Phó Viện trưởng  Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam với tham luận về một số mô hình thể chế phát triển sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ven đô ở vùng đồng bằng sông Hồng. Theo đó, thời gian qua Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu và xây dựng ba mô hình: HTX chuyên ngành, Hội nghề nghiệp và thương mại, Làng nghề và cụm công nghiệp nông thôn. Ðịa bàn triển khai ở các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Ðịnh. Kết quả cho thấy, các HTX chuyên ngành tự tổ chức dịch vụ đầu vào, đầu ra của sản xuất, tài sản cố định ban đầu chủ yếu là của xã viên đóng góp, như chuồng trại, cửa hàng, giống, vốn vay và vốn góp theo điều lệ. Xã viên là những hộ có cùng điều kiện sản xuất, tự nguyện hợp tác. HTX hoạt động không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Sự xuất hiện của các HTX chuyên ngành đã liên kết nông dân để mua, bán nông sản có chất lượng cao và kinh doanh có lãi. Ðây là những yếu tố khác hẳn với mô hình HTX dịch vụ nông nghiệp đang phổ biến hiện nay. Ðến nay, tại vùng đồng bằng sông Hồng đã có 29 HTX chuyên ngành chăn nuôi lợn, với tổng số 660 xã viên tham gia, ngoài ra, còn có HTX thủy sản, thú y đều hoạt động rất hiệu quả. Mô hình hội nghề nghiệp đã xuất hiện ba tổ chức là Hội nông dân sản xuất và thương mại hóa lúa tám Hải Hậu, sản xuất lúa giống ở Nam Sách, sản xuất tiêu thụ vải thiều Thanh Hà. Ðặc điểm của các hội nghề nghiệp này là đại diện nông dân ký kết hợp đồng, phân chia lợi nhuận, đóng góp chung dịch vụ đầu vào, giám sát và điều hành chung quy trình đóng gói, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, trở thành tác nhân mới trong phát triển sản xuất của địa phương. Mô hình làng nghề cụm sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, kết quả nghiên cứu ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, có 600 làng nghề, cụm làng nghề, thu hút khoảng 100 nghìn lao động; trong đó riêng làng nghề Ðồng Kỵ (Bắc Ninh) có quy mô tương đối lớn với 1.800 hộ sản xuất, 30 HTX và 60 công ty, xí nghiệp, tạo ra giá trị sản lượng 150 tỷ đồng/năm. Các mô hình trên cho thấy đã có tác động rõ rệt đến nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm, thu nhập cho hộ nông dân, giúp đẩy nhanh quá trình ứng dụng công nghệ và phân bố lao động. Những thành tựu mang tính đột phá trong nông nghiệp, nông thôn những năm qua cho thấy chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, nông thôn là hướng đi tất yếu để thực hiện CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn.

Những thách thức

Khẳng định những thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2005, các đại biểu thẳng thắn nêu những  khó khăn nảy sinh cần có giải pháp khắc phục để nông nghiệp, nông thôn nước ta phát triển vững chắc.

Giáo sư, Viện sĩ Ðào Thế Tuấn, nguyên Viện trưởng Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam sau khi trình bày kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp ở một số nước trên thế giới, nêu lên hai thách thức mới đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Ðó là làm thế nào để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nhưng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp. Quá trình xây dựng các khu công nghiệp và tốc độ đô thị hóa nhanh như hiện nay tác động đến nông nghiệp như thế nào? Giáo sư kiến nghị là Ðảng, Nhà nước cần quan tâm những thách thức này, đồng thời trong tương lai cần có chính sách cụ thể quy hoạch diện tích, tỷ lệ người dân tham gia sản xuất nông nghiệp nhất định. Chỉ có như thế, chúng ta mới hạn chế được tình trạng ruộng đất manh mún, quy mô sản xuất nhỏ bé, tạo điều kiện hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung.

Ông Nguyễn Văn Chinh, Phó Viện trưởng Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, cho biết, gần đây, Viện tiến hành nghiên cứu, khảo sát việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại một số tỉnh  Bắc Bộ. Kết quả cho thấy, mặc dù đạt được nhiều thành tựu lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, nhưng quá trình đô thị hóa và xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh, không theo nguyên tắc chung nào dẫn đến nhiều khó khăn nảy sinh. Trước tiên là nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, sản xuất các loại sản phẩm chính  chưa ổn định, quy mô nhỏ phân tán, chăn nuôi có tỷ trọng thấp trong cơ cấu. Chất lượng sản phẩm thấp, giá thành sản phẩm cao, xúc tiến thương mại yếu, do vậy rất khó khăn trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, từ đó quy mô sản xuất khó mở rộng và bấp bênh. Mất đất cây hằng năm và vấn đề ô nhiễm môi trường đang ngày càng gay gắt ở khu vực nông thôn. Một bộ phận nông dân khi chuyển đất cho các khu công nghiệp, cho công trình xây dựng, không có phương án tạo việc làm cho họ, nhiều người cuộc sống khó khăn, không ổn định.

Năm 2003 dân số của vùng hơn 13,2 triệu người, trong đó ở nông thôn gần 9,6 triệu người, chiếm 72,7%. Lao động của ngành nông,  lâm nghiệp là: 5,6 triệu người. Lao động không có chuyên môn kỹ thuật ngoài nghề nông là khoảng 75%. Tỷ lệ số người trên 15 tuổi trở lên không có việc làm thường xuyên là 7,0-8,0%. Tỷ lệ hộ nghèo khoảng 6,3%.

Hiện nay ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ mới có 3/11 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung tương đối hoàn chỉnh. Ô nhiễm môi trường xảy ra ở nhiều nơi, nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 1,2 - 3,5 lần (tập trung lớn ở khu vực Phả Lại - Kinh Môn - Hải Dương). Ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng tại các khu đô thị và khu công nghiệp Tam Bạc, sông Cấm (Hải Phòng), sông Sặt thuộc Bình Giang, Hải Dương, sông Bạch Ðằng tại Quảng Ninh và nhiều nơi ở thành phố Hà Nội. Nước ngầm bị nhiễm mặn ở Quảng Ninh, Hải Phòng; ở Hà Nội đã có biểu hiện nước ngầm bị ô nhiễm. Nhiều vùng nuôi tôm công nghiệp do chưa có biện pháp xử lý nước thải cũng gây ô nhiễm môi trường.

Công nghiệp chế biến nông, thủy sản của vùng bao gồm: Chế biến thức ăn gia súc, chế biến thịt lợn xuất khẩu, chế biến lúa gạo, chế biến nước hoa quả đồ hộp, và sản xuất phân bón, các cơ sở  nêu trên có quy mô vừa và nhỏ và đa số đều gắn liền với vùng nguyên liệu. Hạn chế về chế biến nông, thủy sản của vùng là quy mô sản phẩm nhỏ, thiết bị dây chuyền công nghệ còn lạc hậu, không đồng bộ, sản phẩm tạo ra chất lượng thấp, giá thành cao, cạnh tranh thấp.

Mặc dù quá trình đô thị hóa, xây dựng các khu công nghiệp tăng nhanh và diễn biến đất đai có nhiều biến động, nhưng nhìn chung, cơ chế chính sách đang áp dụng với các hộ nông dân mất đất và giải quyết việc làm chưa phù hợp, các hộ nông dân mất đất được đền bù với giá không hợp lý, đồng thời lại chưa có phương án giải quyết triệt để việc làm (đào tạo, tổ chức dạy nghề, bổ túc nghề giải quyết việc làm mới, xuất khẩu lao động, tạo nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nâng cao năng lực và hiện đại hóa các trung tâm dịch vụ việc làm...) đã gây nhiều bất cập. Ðây là vấn đề bức xúc, cấp thiết phải giải quyết triệt để, công bằng, công khai và phải có chính sách tạo việc làm.

Các đại biểu nhận định trong thời gian qua, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, sản xuất chưa ổn định, quy mô nhỏ, phân tán, chăn nuôi trong cơ cấu có tỷ trọng còn thấp. Chất lượng sản phẩm thấp, giá thành sản phẩm cao,  xúc tiến thương mại yếu, do vậy rất khó khăn trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, từ đó quy mô sản xuất khó mở rộng và bấp bênh. Mất đất cây hằng năm và vấn đề ô nhiễm môi trường đang ngày càng gay gắt ở khu vực nông thôn. Một bộ phận nông dân khi chuyển đất cho các khu công nghiệp, cho công trình xây dựng, không có phương án tạo việc làm cho họ, nhiều người trở lại cuộc sống khó khăn không ổn định. Như vậy, thách thức lớn nhất đối với nông nghiệp nông thôn là: Yêu cầu giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa. Sự cạnh tranh gay gắt của thị trường trong và ngoài nước đối với các sản phẩm nông nghiệp.

Những giải pháp

Ông Nguyễn Sỹ cho biết, các giải pháp Bắc Ninh sẽ triển khai trong thời gian tới là: Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với thâm canh tăng vụ. Phát triển mạnh cây trồng vụ đông và các cây màu có giá trị kinh tế cao, tạo  thành vùng sản xuất hàng hóa. Cụ thể là mở rộng diện tích khoai tây đến năm 2010 đạt 5.000 ha, đậu tương đạt hơn 2.000 ha; diện tích rau xanh đạt 11,5 nghìn ha; hoa, cây cảnh 400 ha; xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề, phát triển làng nghề thu hút lao động trong nông thôn; đầu tư hoàn thiện một bước cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn trong thời kỳ CNH, HÐH, tập trung đầu tư hiện đại hóa các cơ sở sản xuất và bảo quản giống cây trồng, vật nuôi, các khu nông nghiệp có công nghệ cao, nông nghiệp sạch, sản xuất rau an toàn, hoa, cây cảnh. Quy hoạch các khu chợ đầu mối: Chợ rau tại Hòa Ðình, chợ khoai tây tại Việt Hùng (Quế Võ), chợ cá tại thị trấn Gia Bình; tổ chức lại sản xuất theo điều kiện mới, hoàn cảnh mới. Trước mắt là củng cố quan hệ sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, gắn quá trình đổi mới thiết bị, công nghệ mới với việc bố trí, sắp xếp lại hệ thống chế biến nông sản. Thành lập trung tâm đào tạo  cán bộ nông nghiệp của tỉnh, mở rộng mạng lưới khuyến nông cơ sở (mỗi xã một người). Ðẩy mạnh việc quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa gắn với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.

Ông Tăng Minh Lộc, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương kiến nghị các giải pháp. Một là, đẩy mạnh đổi mới cơ cấu nông nghiệp theo hướng: phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản. Tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích và nâng cao tỷ trọng nông sản hàng hóa. Hướng đổi mới cơ cấu chủ yếu là: giảm diện tích lúa để tăng diện tích rau màu, chú trọng tăng diện tích trồng rau màu vụ xuân và hè thu, áp dụng các giải pháp kỹ thuật để giải quyết các bất lợi về khí hậu, sâu bệnh. Hải Dương phấn đấu đưa diện tích lúa lai lên 21.000 ha/vụ, diện tích lúa chất lượng cao lên khoảng 20%, trong đó diện tích lúa nếp khoảng 10% (khoảng 6.000 ha/vụ). Thực hiện chọn lọc giống nếp cái Hoa vàng và xây dựng thương hiệu cho gạo nếp Hải Dương. Hai là, đẩy nhanh tốc độ ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ sinh học vào sản xuất và chế biến nông sản. Ðây là yếu tố tác động trực tiếp nâng cao năng suất lao động, năng suất và chất lượng sản phẩm do đó sẽ quyết định sản lượng hàng hóa nông sản. Ba là,  nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Ðổi mới hình thức khuyến nông để khắc phục tình trạng tập huấn kém hiệu quả như hiện nay, chuyển sang hình thức đào tạo nông dân nòng cốt để bồi dưỡng kiến thức cơ bản, kỹ thuật canh tác một số cây, con chủ yếu, bồi dưỡng kiến thức tổ chức sản xuất và thị trường. Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại: phấn đấu đến năm 2010 có 1.000 trang trại với tổng diện tích trang trại 3.500 ha. Năm là, tiếp tục đổi mới phát triển HTX dịch vụ để hỗ trợ kinh tế hộ và trang trại. Sáu là, phát triển HTX dịch vụ để hỗ trợ kinh tế hộ và trang trại, quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp gắn liền với quy hoạch giao thông - xây dựng nông thôn theo hướng HÐH đến tất cả các xã. Quy hoạch cơ cấu sản xuất phù hợp định hướng chung đồng thời vẫn tận dụng và phát huy được lợi thế và phù hợp đặc điểm địa phương. Công tác quy hoạch phải đồng bộ vừa đáp ứng yêu cầu giai đoạn 2006 - 2010, vừa bảo đảm cơ bản đáp ứng yêu cầu lâu dài các năm sau. Vì vậy, phải có sự phối hợp của nhiều ngành mà chủ công là nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, xây dựng. Phấn đấu đến năm 2008, 100% số xã có quy hoạch sản xuất nông nghiệp - dịch vụ gắn với quy hoạch giao thông - xây dựng. Ðể phát triển nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2006 - 2010 thì lượng vốn cần khoảng 7 - 8 nghìn tỷ đồng. Lượng vốn này được thực hiện phải từ nhiều nguồn, như từ các chương trình của T.Ư đầu tư, vốn khoa học, ngân sách tỉnh, doanh nghiệp đầu tư, vốn tín dụng, vốn tự có của nông dân.

Ông Chu Văn Thưởng cho biết, hiện nay, Hà Tây đang tập trung triển khai các giải pháp như: Công tác quy hoạch, tập trung thực hiện các quy hoạch phát triển ngành, ngành hàng, nhóm sản phẩm; cụm điểm công nghiệp; hệ thống nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; du lịch làng nghề...; tập trung xây dựng một số mô hình trọng điểm trong từng lĩnh vực, đối với trồng trọt là mô hình sản xuất rau an toàn, quy mô trên 30 ha, sản xuất hoa, cây cảnh, quy mô trên 15 ha. Mô hình chăn nuôi lợn ngoại (lợn nái, lợn thịt), quy mô trên 15 ha. Mô hình chăn nuôi gia cầm quy mô trên 15 ha. Mô hình chăn nuôi bò sữa, quy mô trên 35 ha (trong đó diện tích xây dựng chuồng trại trên 10 ha). Mô hình chuyển đất lúa trũng sang nuôi trồng thủy sản, quy mô trên 30 ha. Xây dựng mô hình chợ đầu mối kết hợp với cơ sở giết mổ gia cầm tập trung tại Hạ Vĩ - Thường Tín; mô hình xây dựng cơ sở giết mổ và chế biến thịt lợn hợp tác với Ðài Loan; mô hình du lịch làng nghề. Về đất đai, xây dựng và thực hiện chương trình đẩy mạnh dồn điền, đổi thửa, phấn đấu hoàn thành vào năm 2006, với mục tiêu mỗi hộ chỉ còn một đến ba thửa. Thực hiện giao khoán lâu dài theo Luật Ðất đai đối với đất mặt nước, đất bán ngập nước và đất đồi gò, tạo thuận lợi để các hộ nông dân đầu tư phát triển các trang trại sản xuất, thâm canh tăng năng suất; làm tốt công tác dịch vụ phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thực hiện tốt Quyết định 80 của Chính phủ về liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Xúc tiến nghiên cứu xây dựng khu, điểm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, trước mắt tập trung ứng dụng công nghệ cao để sản xuất giống cây, giống con và một số cây trồng, vật nuôi có lợi thế. Tạo thuận lợi để các cơ sở nghiên cứu khoa học chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật mới nhất vào sản xuất. Khuyến khích các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế lựa chọn Hà Tây làm địa bàn triển khai các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ nông, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản, bảo quản và chế biến nông lâm sản. Phát động phong trào nghiên cứu khoa học, đề xuất các giải pháp khả thi, góp phần tích cực giải quyết các vấn đề bức xúc trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn trước mắt cũng như lâu dài đối với lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý ngành NN & PTNT. Tăng cường đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tập trung huy động các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh; huy động mạnh mẽ các nguồn vốn của các doanh nghiệp, các hộ nông dân và cá nhân kinh doanh, các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, v.v. để đầu tư nâng cấp, bổ sung hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ và phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt những cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và tiêu thụ đang phát huy tác dụng, đồng thời tiến hành rà soát, điều chỉnh những cơ chế, chính sách của tỉnh hiện không phù hợp: Hỗ trợ kinh phí chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha; nạo vét kênh mương nội đồng...

Ðể tăng giá trị sản xuất nông nghiệp cần từng bước chuyển nhanh sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm sạch, có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu. Nhanh chóng xóa bỏ tình trạng ruộng đất manh mún; dồn điền, đổi thửa tạo vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản, tăng quy mô các loại cây trồng vật nuôi có giá trị, có lợi thế của từng vùng như rau, hoa, cây công nghiệp ngắn ngày, lợn, gia cầm và nuôi thủy sản. Ðưa giá trị sản xuất nông nghiệp trên một ha đạt 38-40 triệu đồng hiện nay lên 50 triệu đồng vào năm 2010. Một ưu thế lớn của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là có đầy đủ điều kiện phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Ðây là vùng tập trung các cơ quan nghiên cứu đầu ngành; nông dân có nhiều kinh nghiệm thâm canh và tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh; cơ sở hạ tầng nông nghiệp tương đối hoàn thiện. Chỉ riêng trong giai đoạn 2006 đến 2010, ước tính tổng vốn đầu tư khoảng 200 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách khoảng 50%. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi đặc biệt nhằm khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp công nghệ cao bởi đây là lĩnh vực lợi nhuận không cao và nhiều rủi ro. Ðể giải quyết một lượng lớn lao động dôi dư trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, cần tập trung hỗ trợ phát triển ngành nghề mới, hình thành các khu cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề. Phát triển các khu, cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phải chú trọng đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường. Ðể bảo đảm đời sống ổn định cho những hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất để làm các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thì người có đất được góp giá trị quyền sử dụng đất để chia lợi nhuận theo cổ phần hoặc các doanh nghiệp phải mua bảo hiểm cho nông dân theo giá trị quyền sử dụng đất mà họ góp vào phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích, ưu đãi các doanh nghiệp tư nhân đầu tư phát triển nông nghiệp, đưa công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may, giày da về các vùng nông thôn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhưng vẫn bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa của từng vùng quê...

Có thể bạn quan tâm