Đẩy mạnh nông nghiệp xanh, tuần hoàn

Hiện nay, thị trường tiêu dùng nông sản đang chuyển nhanh từ yêu cầu về chất lượng sang yêu cầu đồng thời về nguồn gốc, phương thức sản xuất, giảm phát thải. Vì vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn chính là điều kiện duy trì năng lực cạnh tranh và tạo dư địa tăng trưởng mới cho nông nghiệp.

Sản xuất sản phẩm thủ công gắn lá bồ đề tại Hợp tác xã Sinh Dược, tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: HỢP TÁC XÃ SINH DƯỢC)
Sản xuất sản phẩm thủ công gắn lá bồ đề tại Hợp tác xã Sinh Dược, tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: HỢP TÁC XÃ SINH DƯỢC)

Xanh hóa chuỗi sản xuất

Trong thực tế sản xuất, nhiều mô hình nông nghiệp chú trọng sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân ngay từ khâu tổ chức sản xuất.

Hợp tác xã Sinh Dược (tỉnh Ninh Bình) là một trong những mô hình lựa chọn hướng đi này khi chọn cây dược liệu bản địa làm nền tảng để xây dựng chuỗi sản xuất gắn với chế biến, dịch vụ và du lịch sinh thái. Giám đốc Hợp tác xã Sinh Dược Vũ Trung Đức cho biết: Từ vùng nguyên liệu, dược liệu được thu hái, sơ chế, chiết xuất, pha chế và chế biến thành các sản phẩm như: muối ngâm chân, tinh dầu các loại, xà-phòng tắm, dầu gội, tranh lá bồ đề bình an...

Điểm quan trọng của mô hình là tổ chức thành chuỗi giá trị gồm vùng nguyên liệu-xưởng chế biến vệ tinh-xưởng đóng gói tập trung với mục tiêu sản xuất đầy đủ các sản phẩm tiện dụng có nguồn gốc tự nhiên, không hóa chất, thân thiện với môi trường; xây dựng không gian du lịch sinh thái kết hợp không gian biểu diễn nghệ thuật dân gian và dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng các phương thức cổ truyền. Cách tổ chức này giúp kéo dài chuỗi giá trị của cây dược liệu. Ngoài ra, hiệu quả mô hình được thể hiện ở sinh kế của những người trực tiếp tham gia sản xuất.

Chị Bùi Thị Thơm, xã viên hợp tác xã chia sẻ: “Với thu nhập khoảng 7 triệu đồng/tháng, chúng tôi có thể yên tâm gắn bó với công việc. Hợp tác xã hoạt động theo hướng xanh, sinh thái nên người lao động cũng được làm việc trong môi trường thân thiện, trong lành”.

Là địa phương có nền nông nghiệp phát triển, Bắc Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn. Ông Nguyễn Hồng Quang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Trên địa bàn thành phố, tư duy nông nghiệp tuần hoàn đã được cụ thể hóa bằng nhiều mô hình phù hợp với điều kiện địa phương. Thí dụ như phụ phẩm trồng trọt được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu sản xuất nấm hoặc xử lý để hoàn trả chất hữu cơ cho đất. Các mô hình lúa-cá, trồng trọt kết hợp chăn nuôi, sử dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất phân hữu cơ bước đầu tạo ra dòng vật chất được sử dụng nhiều lần trong cùng hệ thống, qua đó giảm chi phí đầu vào và lượng chất thải phát sinh vừa bảo vệ môi trường vừa tăng thu nhập cho nông dân.

Kết nối chính sách, triển khai hiệu quả tín dụng xanh

Từ mô hình cụ thể tại các địa phương có thể thấy chuyển đổi xanh bắt đầu từ việc tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến đến thị trường và sinh kế. Đây cũng là cách tiếp cận cần được mở rộng trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp ở quy mô lớn hơn.

Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn hiện vẫn còn nhiều thách thức. Cụ thể, nhiều mô hình cho hiệu quả về kỹ thuật và môi trường nhưng khó nhân rộng do thiếu hạ tầng, vùng nguyên liệu cộng thêm hạn chế về cơ giới hóa, năng lực hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp và nguồn vốn. Trong khi đó, cả nước hiện cũng chưa có hệ thống chỉ tiêu đồng bộ để đo mức độ sinh thái, xanh, tuần hoàn theo ngành hàng và vùng sinh thái.

Các chính sách tín dụng cần phù hợp hơn với chu kỳ đầu tư của mô hình tuần hoàn, nông-lâm kết hợp và phục hồi đất; khuyến khích tín dụng dựa trên kết quả môi trường. Ngoài ra, mở rộng bảo hiểm nông nghiệp, hình thành cơ chế tín dụng xanh, nghiên cứu huy động nguồn lực xã hội thông qua trái phiếu xanh, quỹ chuyển đổi xanh và các công cụ chia sẻ rủi ro khí hậu để thúc đẩy hộ sản xuất đầu tư vào công nghệ và quy trình mới.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Trước thực tế đó, Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, cần tiếp tục đồng bộ hóa các chính sách hiện hành về nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn thành một khung chương trình thống nhất đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; trong đó, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, nguồn lực, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế giám sát. Bên cạnh năng suất và giá trị sản xuất, cần từng bước bổ sung các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất, nước, phát thải khí nhà kính trên một đơn vị sản phẩm; tỷ lệ tái sử dụng phụ phẩm, chất lượng đất, đa dạng sinh học, thu nhập và khả năng chống chịu của hộ nông dân.

Nguồn vốn vẫn là một trong những điều kiện quyết định khả năng nhân rộng mô hình. Do đó, các chính sách tín dụng cần phù hợp hơn với chu kỳ đầu tư của mô hình tuần hoàn, nông-lâm kết hợp và phục hồi đất; khuyến khích tín dụng dựa trên kết quả môi trường. Ngoài ra, mở rộng bảo hiểm nông nghiệp, hình thành cơ chế tín dụng xanh, nghiên cứu huy động nguồn lực xã hội thông qua trái phiếu xanh, quỹ chuyển đổi xanh và các công cụ chia sẻ rủi ro khí hậu để thúc đẩy hộ sản xuất đầu tư vào công nghệ và quy trình mới.

Khi yêu cầu của thị trường, phương thức sản xuất và chính sách cùng hướng về mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và nâng giá trị sản phẩm, nông nghiệp sinh thái, xanh và tuần hoàn sẽ có thêm nền tảng để chuyển từ những mô hình riêng lẻ thành hướng phát triển rộng hơn.

Có thể bạn quan tâm