Ðầu tư sản xuất nguyên liệu của ngành dệt-may

Kết quả bước đầu

Tại các xí nghiệp may thuộc các công ty: May Việt Tiến, cổ phần (CP) May 10, CP May Phương Ðông, CP May Phương Nam và Dệt Phong Phú, Dệt Phước Long... không khí lao động khẩn trương đến từng tổ sản xuất, từng người thợ làm việc có chất lượng, hiệu quả lập thành tích chào mừng Ðại hội lần thứ X của Ðảng. Tại Xí nghiệp may 2 (CP May 10), nữ công nhân bậc bốn Nguyễn Thị Ngọc Dung đang say sưa may măng-sét áo, chị cho biết: Từ đầu năm nay, xí nghiệp bố trí lại sản xuất theo cụm công việc, cho nên năng suất lao động tăng, một ca chị may được 1.000 - 1.100 sản phẩm, vượt so với trước 400 sản phẩm. Chủ tịch HÐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Ðặng Phương Dung khẳng định, tổng doanh thu quý I của công ty đạt 165 tỷ đồng, tăng 20,33%; kim ngạch xuất khẩu đạt 24,31 triệu USD, tăng 21,25% so cùng kỳ. Ðây là kết quả của việc tăng cường khai thác mở rộng thị trường xuất khẩu mới, đồng thời chú trọng phát triển thị trường trong nước, tăng năng suất lao động bằng việc tổ chức lại sản xuất, sắp xếp dây chuyền may hiệu quả và áp dụng các biện pháp tiết kiệm chi phí, trong đó có sử dụng hệ thống là hơi bằng than thay thế sử dụng điện, tiết kiệm 50% chi phí ở khâu là. Việc đưa hệ thống G-Prô để quản lý năng suất lao động từng người thợ chính xác cũng tăng năng suất 20%. Chị Nguyễn Thị Chi, công nhân may áo sơ-mi xuất khẩu xưởng 2, Công ty may Việt Tiến cho biết: Cơ chế khoán sản phẩm đến từng chi tiết (nút, cổ tay, cổ, nẹp áo...) đã làm cho công nhân tập trung sức nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao sản lượng tới mức cao nhất. Theo đồng chí Nguyễn Hữu Chỉnh, Phó Tổng giám đốc Công ty may Việt Tiến, do sử dụng máy móc hiện đại, có đơn hàng lớn, thương hiệu Việt Tiến được bạn hàng nước ngoài tín nhiệm, đầu ra ổn định, cho nên công ty đang dồn sức thực hiện các đơn hàng lớn song không quên các đơn hàng nhỏ có giá trị cao. Quý I, Việt Tiến thực hiện kim ngạch xuất khẩu vượt 15% so cùng kỳ năm trước, trở thành đơn vị đầu tàu kéo ngành may cả nước đi lên. Ở Công ty dệt Phong Phú, xuất khẩu gắn liền việc tiết kiệm chi phí sản xuất như điện, nước, nguyên liệu, hóa chất, vật tư, quy trình công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật trị giá gần 30 tỷ đồng. Phó Tổng giám đốc Nguyễn Văn Lập phân tích: "Việc tiết kiệm giảm chi phí đầu vào nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của Dệt Phong Phú đã trở thành chương trình nghị sự của chín đơn vị thành viên. Nhờ đó, Phong Phú khai thác 90-95% hiệu suất máy móc với năng suất lao động vượt 50% so với một số đơn vị bạn. Bốn năm nay, Dệt Phong Phú liên tục trúng thầu trên mạng các đơn hàng lớn xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ với giá thành cạnh tranh hợp lý". Ở Công ty Phước Long sau khi cổ phần, công ty đang từng bước thay đổi cung cách quản lý, tích cực tìm kiếm thị trường, mở rộng phân cấp quản lý đến tận các xưởng. Từ một đơn vị thua lỗ, quý I năm nay, Phước Long đạt doanh thu và kim ngạch xuất khẩu đều tăng 20% so cùng kỳ năm trước. Tổng Giám đốc May Phương Nam, Trần Minh Chính cho rằng, sau năm năm hoạt động theo mô hình cổ phần hóa, toàn bộ sản phẩm được xuất khẩu, đến nay, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 6,6 lần. Cùng với việc đầu tư mở rộng sản xuất tăng thêm năng lực, công ty thực hiện các biện pháp giảm giá thành, như khoán chi phí văn phòng phẩm, điện thoại, điện, nước... Sản phẩm đạt chất lượng cao và có giá cạnh tranh, hiện nay công ty có hợp đồng sản xuất đến hết năm.

Theo Chủ tịch Hiệp hội dệt - may Việt Nam Lê Quốc Ân, quý I năm nay, ngành dệt, may cả nước tăng trưởng 27% so cùng kỳ. Trước hết, do DN vươn lên chủ động tìm kiếm thị trường, đổi mới thiết bị làm ra nhiều sản phẩm có giá trị cao. Ðẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản với giá cạnh tranh. Hàng dệt, may Việt Nam vào thị trường EU quý I cũng tăng 70% là do quý I năm trước xuất khẩu vào thị trường này âm, do thời điểm đó hàng Trung Quốc chưa bị EU áp mức hạn ngạch mới khiến hàng Việt Nam không cạnh tranh được. Liên bộ Thương mại - Công nghiệp áp dụng cơ chế cấp hạn ngạch tự động xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và bãi bỏ hầu hết phí sử dụng hạn ngạch để thúc đẩy các DN đẩy mạnh xuất hàng vào thị trường này. Một yếu tố quan trọng làm tăng trưởng là, nhiều DN đổi mới quản lý, hướng sản xuất vào những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, quan tâm khâu thiết kế, tăng phương thức bán FOB.

Hiện nay, Việt Nam đứng thứ sáu về xuất khẩu hàng may mặc sang Mỹ, thứ hai sang Nhật Bản và thứ 22 sang EU.

Thách thức và giải pháp

Xuất khẩu trong quý đầu năm tăng cao nhưng việc duy trì được tốc độ này đến cuối năm được dự báo sẽ gặp khó khăn. Cho đến nay, hạn ngạch những mặt hàng nóng dành để cấp tự động cho DN xuất đi Hoa Kỳ đã hết. Số còn lại chỉ dành cho những DN có thành tích xuất khẩu của năm 2005 và ngay cả doanh nghiệp có thành tích, Bộ Thương mại cũng chỉ có thể bảo đảm lương hạn ngạch tối đa 60% giá trị xuất khẩu mà mỗi đơn vị đã thực hiện trong năm 2005. Hiệp hội dệt - may Việt Nam cho rằng, những tháng cuối năm thiếu hạn ngạch vào thị trường Hoa Kỳ, các DN gặp khó khăn vì nguy cơ khách hàng chuyển đơn hàng sang nước khác.

Tốc độ tăng trưởng khá nhanh của ngành may mặc cả xuất khẩu và tiêu thụ trong nước đang đòi hỏi ngày càng cao về nguyên phụ liệu. Tuy nhiên, công nghiệp hỗ trợ (sản xuất phụ tùng, phụ liệu...) cho ngành dệt - may hiện chưa phát triển, cho nên các DN phải nhập hầu hết máy móc, thiết bị, phụ tùng, hóa chất, thuốc nhuộm và phụ liệu để phục vụ sản xuất. Việc cung cấp nguyên phụ liệu tại chỗ chưa đáp ứng yêu cầu đã giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Mặc dù nguồn nguyên, phụ liệu sản xuất trong nước được đầu tư khá mạnh trong nhiều năm qua, song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Ðến nay, các DN vẫn đang làm gia công là chính, nguồn cung cấp nguyên, phụ liệu vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, còn sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 20% yêu cầu của sản xuất, chất lượng vải không đồng đều. Trung tâm sản xuất nguyên - phụ liệu ở TP Hồ Chí Minh đã có quyết định thành lập hai năm nay nhằm cung ứng nguyên phụ liệu cho các thành phần kinh tế, nhưng đến nay vẫn còn long đong vì chưa có địa điểm.

Về kỹ  năng quản lý sản xuất, kỹ thuật của các DN hiện còn yếu, năng suất thấp, nhiều DN vẫn còn bị động trong việc tìm kiếm và mở rộng thị trường, một số doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu của mình. Khả năng phản ứng nhanh trước các yêu cầu thay đổi theo mùa mốt, kiểu dáng, hoa văn của khách hàng chưa cao, còn lúng túng khi xử lý các lô hàng nhỏ, thời gian giao  hàng ngắn... Khả năng thiết kế mẫu, phát triển các mặt hàng có giá trị gia tăng cao của các DN chưa đáp ứng yêu cầu.

Hiện nay, nguồn nhân lực ngành dệt - may đang bị cạnh tranh quyết liệt, tại các thành phố lớn hiện tượng thiếu lao động làm hàng xuất khẩu ở nhiều DN may đang diễn ra ngay trong quý I. Thực hiện chiến lược phát triển, đưa ngành dệt - may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, các DN trong ngành cần chú trọng công tác thị trường, trong đó, tập trung mở rộng thị trường xuất khẩu là khâu đột phá trong chiến lược phát triển. Tổ chức tốt mạng lưới bán lẻ trong nước, đẩy mạnh khâu tiếp thị xuất khẩu, quảng bá thương hiệu sản phẩm. Tập trung đầu tư sản xuất vải, nguyên phụ liệu phục vụ cho may xuất khẩu, đầu tư cho ngành may để tăng năng suất lao động, tạo điều kiện sản xuất vải và phụ liệu thay thế hàng nhập khẩu. Tiến hành quy hoạch lại vùng trồng bông, ưu tiên mở rộng diện tích trồng bông. Có kế hoạch lâu dài phát triển nguồn nhân lực, là giải pháp quyết định sự phát triển bền vững của ngành dệt - may, gồm đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nhất là các nhà thiết kế thời trang, cán bộ tiếp thị, công nhân lành nghề. Ðầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tạo sức cạnh tranh trên thị trường, đồng thời củng cố hệ thống quản lý kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật về tiêu hao nguyên vật liệu, nhiên liệu... Tập trung xử lý triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường tại các đơn vị, các khu công nghiệp dệt - may, nhất thiết phải có khu xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn, tạo môi trường lao động tốt cho người lao động theo tiêu chuẩn SA 8000, ISO 14000, đáp ứng yêu cầu về môi trường khi hội nhập kinh tế quốc tế. Mặt khác, do nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngành dệt - may là rất lớn, cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước tham gia đầu tư, có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành dệt - may, nhất là ngành dệt, nhằm thu hút vốn, công nghệ, thị trường, đổi mới thiết bị, phấn đấu xuất khẩu 500 triệu mét vải trong năm 2006.

Ðẩy mạnh việc hợp tác hóa và chuyên môn hóa trong chuỗi liên kết giá trị sản phẩm giữa DNNN, DN tư nhân, DN FDI, liên doanh để thực hiện các đơn hàng lớn hoặc đơn hàng có giá trị cao, đi vào sản xuất các sản phẩm may mặc có giá trị. Mở rộng liên kết, liên doanh với các nhà nhập khẩu lớn để tăng cường tiêu thụ hàng, khẳng định vị trí thương hiệu của DN dệt - may Việt Nam trong hệ thống phân phối bán buôn và bán lẻ quốc tế, chuẩn bị điều kiện mở rộng thị trường khi bỏ hạn ngạch.

Từ nay đến cuối năm, khẩn trương xây dựng Trung tâm nguyên phụ liệu ngành dệt - may có tổng vốn đầu tư 25 triệu USD tại TP Hồ Chí Minh để chủ động việc cung cấp nguyên liệu, phụ kiện cho các thành phần kinh tế trong nước, bán buôn và bán lẻ ở thị trường ngoài nước. Tìm kiếm, lựa chọn hợp tác với các nhà thiết kế có tên tuổi ở nước ngoài để thiết kế mẫu quần áo thời trang, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Có thể bạn quan tâm