Ðất và người Phú Thượng

Ðứng  trên cầu Thăng Long, nhìn xuôi về phía nam, dải đất Phú Thượng hiện ra trong hiền hòa sông nước, với một bên là sông Hồng nặng đỏ phù sa, phía kia là Hồ Tây  trong xanh ngời ngợi. "Ðịa lợi" để Phú Thượng trở thành vùng  hoa nổi tiếng đất Hà thành. Lại có "nhân hòa" với truyền thống yêu nước và cách mạng.

Ðất và người Phú Thượng đã có vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về Hà Nội, trước khi Người vào nội thành để chuẩn bị cho thời khắc thiêng liêng, tuyên ngôn với thế giới, nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập.

Phú Thượng là vùng đất ven đô, xưa thuộc huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Tây Hồ, với ba cụm dân cư: Phú Gia, Phú Xá và Thượng Thụy. Những năm 1941 - 1945, nhà bà Công Thị Lùn (tức bà Hai Vẽ), ở thôn Phú Gia trở thành một trong những cơ sở cách mạng, đùm bọc, che chở những cán bộ cấp cao của Ðảng: Tổng Bí thư Trường Chinh, và các đồng chí Thường vụ Trung ương Hoàng Văn Thụ và Lê Ðức Thọ. Tại đây, đồng chí Trường Chinh đã dự thảo nhiều văn kiện quan trọng, vạch ra đường lối cách mạng Việt Nam. Cùng thời gian và địa điểm này, tờ Báo Cờ giải phóng, cơ quan ngôn luận của Ðảng Cộng sản Ðông Dương, do đồng chí Tổng Bí thư phụ trách đã được tổ chức in ấn.

Nằm sát triền đê sông Hồng, đoạn An Dương Vương, di tích cách mạng nhà bà Hai Vẽ vẫn còn gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà lá năm gian, cột kèo tre, nền đất. Còn đó, vảnh vách do chính đồng chí Trường Chinh tự tay trát, cái bếp ăn nhỏ, chiếc giường tre, một hương án bằng gỗ được đóng thành tủ để đựng tài liệu, một chiếc ghế đẩu mà đồng chí Trường Chinh thường ngồi làm việc. Nơi ẩn nấp khi có người lạ vào nhà được đặt sau ban thờ (chỗ này trước kia có cửa hậu thông ra vườn cây cối um tùm và có lối dẫn ra bờ sông, nơi có con đò chờ sẵn để đưa các đồng chí của ta sang bên Ðông Anh, phòng khi bất trắc). Trong khuôn viên di tích, có Nhà Trưng bày lưu niệm, ở đó treo những bức ảnh ghi dấu một số thời khắc hào hùng, mà đất và người Phú Thượng nhớ mãi. Giới thiệu với chúng tôi, bức ảnh  ngày 31-1-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nơi ở của đồng chí Trường Chinh trong những năm 1941-1945, bác Nguyễn Văn Ðức, người quản lý di tích xúc động nhớ lại: "Khi đó, tôi còn rất nhỏ, được nghe người thân kể lại, hôm ấy, được tin Bác về thăm Phú Thượng, sẽ ghé qua nhà bà Hai Vẽ, bà con náo nức đón chờ. Bác đến, ân cần thăm hỏi từ người già đến người trẻ, chia quà cho các cháu thiếu nhi.  Em nhỏ đội mũ nồi trong bức ảnh đó chính là tôi ngày ấy... Hồi bé, có vinh dự được gặp Bác, trưởng thành là anh Bộ đội Cụ Hồ, sau khi về hưu lại nhận nhiệm vụ quản lý di tích, hằng ngày, đón khách tham quan, từ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước, đến các cháu học sinh, tôi luôn cảm thấy tự hào khi giới thiệu những hiện vật, tư liệu lịch sử, những đóng góp của đất và người Phú Thượng trong những ngày khó khăn của cách mạng Việt Nam".

Trong lịch sử Ðảng bộ phường Phú Thượng có một mốc son đáng nhớ, đó là ngày 23-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ cách mạng đi từ Việt Bắc, điểm đầu tiên Bác đặt chân lên đất Hà Nội là cây gạo ven đê sông Hồng, rồi theo bờ đê đến đình làng Phú Xá, sau đó, Bác nghỉ lại nhà ông Công Ngọc Kha, trước khi vào nội thành khởi thảo Tuyên ngôn độc lập. Ngôi nhà Bác từng ở, được gia đình ông Công Ngọc Kha và nay, con trai ông là Công Ngọc Dũng hiến toàn bộ để làm điểm di tích cách mạng, do thành phố Hà Nội quản lý. Ngôi nhà, theo lời anh Công Ngọc Dũng, vẫn còn nguyên vẹn từ năm 1929. Kể với chúng tôi, anh Công Ngọc Dũng cho biết, ông nội anh là chánh tổng nhưng gia đình sớm giác ngộ và đi theo cách mạng. Bà nội anh là cụ Nguyễn Thị An, được bà Trần Thị Sáu, một cơ sở cách mạng giác ngộ và dìu dắt. Sau đó, cụ An động viên người con trai duy nhất cùng tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1943, bà Sáu giới thiệu đồng chí Hoàng Tùng  về sống và làm việc tại gia đình liên tục đến năm 1945. "Theo bố tôi kể lại, ngày 23-8-1945, ông đang họp ở nhà bà Hai Vẽ, nghe tin báo, nhà có khách, bố tôi vội về nhà, thì bị ngăn lại từ ngoài, chờ người nhà ra nhận mới được vào. Nghe bác Hoàng Tùng nói là có người ở chiến khu mới về, mọi người phải giữ bí mật. Khi đó, chưa ai biết ông cụ đầu đội mũ lá, chân đi giày vải kia là ai, chỉ thấy, sáng ra, ông cụ dậy thật sớm ra cái ao trước nhà tập thể dục, rồi vào bàn làm việc cho tới khuya. Ðến chiều 25-8, ông cụ mời cả nhà cùng ăn bữa cơm chia tay. Trong bữa cơm, bà nội tôi đứng bên, có ý phục vụ, ông cụ liền bảo, mọi người cùng ngồi, ai ăn hết tự ra xới cơm, không ai phục vụ ai cả. Rồi ông cụ cảm ơn gia đình và hẹn sẽ gặp lại. Sau này, mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm về Bác Hồ,  bà tôi, bố tôi như sống lại quãng thời gian đáng nhớ ấy". Ông Công Ngọc Kha đã trở thành người chiến sĩ cộng sản  trung thành, từng bị địch bắt tù đày ở Côn Ðảo, là cán bộ lão thành cách mạng; con trai đầu của ông là Công Ngọc Chung, đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; con trai thứ và còn lại duy nhất Công Ngọc Dũng đã trở thành đảng viên Ðảng Cộng sản Việt Nam. Gia đình họ Công được tặng Bằng có công với nước.

Ngày 24-11-1946, Bác đã trở lại thăm Phú Thượng, khi đó, ai cũng đã biết ông cụ đầu đội nón lá, chân đi giày vải hôm nào chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên tất cả đều hồi hộp và xúc động. Bác thăm nhà ông Công Ngọc Kha, thấy cụ Phó Trường (bố ông Kha) vì mặc cảm là người của chế độ cũ, định quỳ xuống làm lễ, Bác vội lại gần, đỡ cụ đứng lên và bảo: "Bây giờ ta là anh em cả". Rồi Bác hỏi thăm công việc, hoàn cảnh  từng người. Có mặt trong ngày hôm đó, ông Nguyễn Văn Thanh (tức Thanh Y), khi đó là phụ trách thanh niên của xã, được giao báo cáo với Bác tình hình hoạt động thanh niên, nhưng khi trông thấy Bác, ông xúc động quá, không nói được gì, chỉ chúc Bác sống lâu muôn tuổi. Nhớ lại kỷ niệm đó, ông Thanh Y bồi hồi: "Ngày 2-9-1945, tôi là đại diện thanh niên của xã, được vào Quảng trường Ba Ðình, chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc, chỉ được trông thấy Bác từ xa, đến hôm ấy được gặp trực tiếp, được Bác xoa đầu, tôi xúc động nói không nên lời. Hình ảnh Bác quá đỗi giản dị và gần gũi, tình cảm Bác dành cho Phú Thượng quê tôi, luôn là nguồn động viên tôi trong suốt quãng đời hoạt động cách mạng sau này".

Hôm nay, Phú Thượng cùng các địa phương khác của Thủ đô mang trong mình trọng trách giữ gìn, phát huy những giá trị của mảnh đất nghìn năm tuổi. Phú Thượng nổi tiếng là đất trồng hoa, trong đó trồng hoa đào là nghề truyền thống. Trong cơ chế thị trường, đất trồng đào ngày càng thu hẹp, dù biết bao mồ hôi, nước mắt đã đổ xuống gốc đào, nhưng nhiều người Phú Thượng vẫn giữ cho được nghề của cha ông, cũng là gìn giữ nét văn hóa không phải nơi nào cũng có.

Có thể bạn quan tâm