Theo PGS, TS Huỳnh Thị Lan Hương: Nghiên cứu của Scott A. Kulp và Benjamin H. Strauss đến từ Climate Central đăng trên Tạp chí Nature Communications đã đưa ra những nhận định về nguy cơ ngập gây ra bởi NBD do BĐKH cho các đồng bằng trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo đó, NBD do BĐKH có thể ảnh hưởng đến số lượng người cao hơn gấp ba lần so với những dự báo trước đó, đe dọa tất cả mọi người, thậm chí là xóa sổ một số thành phố ven biển.
Tuy nhiên, một số vấn đề trong bài báo cần được xem xét kỹ lưỡng hơn, như: Chỉ sử dụng số liệu của Mỹ để hiệu chỉnh cho toàn cầu; các giả thiết về mực NBD kết hợp triều cường là tình huống cực đoan rất khó xảy ra và không được Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) khuyến cáo. So sánh bài báo với Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam năm 2016 cho thấy: Số liệu trong nghiên cứu này không tốt hơn số liệu mà Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) đã sử dụng; thông tin “vào năm 2050, TP Hồ Chí Minh và ĐBSCL sẽ bị “xoá sổ” là chưa đủ cơ sở khoa học và dựa trên các giả định cực đoan. Do vậy, các cơ quan, địa phương khi đánh giá nguy cơ ngập do NBD cần sử dụng số liệu chính thức.
Lý giải về vấn đề nêu trên, PGS, TS Huỳnh Thị Lan Hương cho biết thêm: Thứ nhất, về số liệu và phương pháp luận trong nghiên cứu của Climate Centreal, số liệu địa hình ven biển (Coastal DEM) được xây dựng trên cơ sở hiệu chỉnh sai số của STRM DEM (số liệu địa hình của NASA - NASA’s Shutter Radar Topography Mission, 2000). Thực tế, STRM DEM thường có sai số về độ cao lớn do bao gồm cả các lớp thực vật và nhà cửa. Vì vậy, bài báo đã hiệu chỉnh số liệu địa hình ven biển thông qua sử dụng số liệu địa hình Lidar tại Mỹ và mạng thần kinh nhân tạo, sau đó áp dụng cho toàn cầu. Như vậy, nghiên cứu đã không hiệu chỉnh cho ĐBSCL nên số liệu địa hình trong nghiên cứu này chưa phản ánh đúng độ cao thực tế của khu vực.
Trong khi đó, năm 2016, Bộ TN-MT đã công bố kịch bản BĐKH và nước biển dâng, tại kịch bản này số liệu địa hình được sử dụng để xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do NBD cho khu vực ĐBSCL được lấy từ: Mô hình số địa hình kích thước ô lưới là 2 m x 2 m của 13 tỉnh ĐBSCL (Cục Viễn thám Quốc gia thực hiện năm 2008); Bản đồ số địa hình tỷ lệ 1:2.000 do dự án bay chụp Lidar (Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam thực hiện). Các số liệu này đều được quy chuẩn theo mốc quốc gia về bề mặt khu vực. Do vậy, có thể nói số liệu trong nghiên cứu này không tốt hơn số liệu mà Bộ TN-MT đã sử dụng.
Thứ hai, về giả định nghiên cứu: Trong nghiên cứu của Climate Central, các tác giả sử dụng kịch bản NBD hai mét kết hợp với triều cường trong xây dựng bản đồ nguy cơ ngập. Thực tế, đây là sự chồng chập của hai giả định rất cực đoan, tất nhiên sẽ dẫn đến tình trạng nguy cơ rủi ro rất cao. Hơn nữa, kết quả đưa ra sẽ không thể phân biệt ngập lụt do mực NBD do BĐKH (ngập vĩnh viễn) và nguyên nhân ngập lụt do hiệu ứng thủy triều (chỉ trong vài giờ). Ngoài ra, kịch bản NBD hai mét không được đề xuất trong báo cáo Đánh giá lần thứ năm của IPCC (AR5). Trong quá trình xây dựng kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016, Bộ TN-MT đã xây dựng kịch bản với mức ngập hai mét. Với mức ngập này tỷ lệ ngập tại ĐBSCL sẽ lên tới 87,34% diện tích. Tuy nhiên, như đã nói ở trên kịch bản NBD hai mét không được đề xuất trong báo cáo Đánh giá IPCC. Vì vậy, Bộ TN-MT đã không cung cấp kịch bản này.
Trong Kịch bản BĐKH đã được công bố năm 2016 của Bộ TN-MT, kết quả xác định nguy cơ ngập ứng với mực nước dâng 100 cm (tương ứng với kịch bản RCP 8.5, đến năm 2100) như sau: Khoảng 16,8% diện tích đồng bằng sông Hồng; 1,47% diện tích các tỉnh ven biển miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận; 17,8% diện tích thành phố Hồ Chí Minh và 38,9% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị ngập; cụm đảo Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc có nguy cơ ngập cao. Nguy cơ ngập đối với quần đảo Trường Sa là không lớn. Quần đảo Hoàng Sa có nguy cơ ngập lớn hơn...
Hiện nay, Bộ TN-MT đang tiến hành cập nhật kịch bản BĐKH. Dự kiến, thời gian tới, sẽ tiếp tục cập nhật các bản đồ nguy cơ ngập do NBD từ dữ liệu cập nhật này trong các kịch bản tới. Như vậy, có thể nói, đây cũng là một thông điệp cần quan tâm để khi xây dựng các phương án quy hoạch chính quyền cần chú ý đến sự sụt lún, NBD và ngập lụt do triều cường để đề xuất phương án hợp lý giải quyết vấn đề NBD cho ĐBSCL và TP Hồ Chí Minh hiện nay và trong tương lai.