Cuộc chiến chống cây thuốc phiện không chỉ là triệt phá, mà quan trọng hơn là thay đổi nhận thức của đồng bào. Từ chỗ lầm coi cây anh túc là “cứu cánh”, đồng bào Tà Xùa hôm nay đã lựa chọn con đường khác: Cho con đi học, chuyển đổi sản xuất, thoát khỏi cái bóng quá khứ. Đó là một hành trình không dễ, nhưng đã và đang tạo nên diện mạo mới cho những xã, bản từng chìm trong khói thuốc phiện.
Trở lại Tà Xùa hôm nay, đổi thay rõ nhất là ở sự học. Trẻ em trong các bản đều được đến trường. Sau khi học hết lớp 2 tại điểm bản, các em tiếp tục xuống trung tâm xã học lên. Trẻ em trai và gái đều được tạo điều kiện học tập. Toàn xã hiện có gần 2.300 học sinh, hơn một nửa là nữ; tình trạng bỏ học giữa chừng hay tảo hôn cơ bản không còn - điều trước đây khó có thể hình dung.
Còn nhớ vào tháng 3/2018, trong một chuyến theo Đoàn công tác 06 trở về từ rừng, chúng tôi dừng chân tại bản Làng Sáng, khi đó còn thuộc xã Háng Đồng. Trên con dốc quanh co giữa bản, khoảng 10 em nhỏ vừa đi vừa cười nói.
Hỏi ra mới biết, các em là học sinh điểm bản Làng Sáng vừa tan học. Điều khiến tôi ngạc nhiên là trên tay các em không mang theo sách vở...
Lúc đó, thầy giáo Mùa A Nhè, giáo viên cắm bản, giải thích: Do khí hậu ẩm ướt, đường đi lại gian nan, sách vở để lại lớp. Buổi tối, các em quay lại lớp để được thầy cô hướng dẫn ôn bài. Chỉ một năm sau, nhiều em trong số đó sẽ rời bản, đi bộ hàng giờ xuống trung tâm xã để học tiếp. Một hành trình gian nan, nhưng là lựa chọn mà ngày càng nhiều gia đình đồng bào H’Mông nơi đây đã làm.
Khi nghe câu chuyện chia sẻ của thầy giáo Mùa A Nhè như vậy, một đồng nghiệp đi cùng buột miệng: “Đúng là thay đổi rồi, chỉ có đi học mới thoát được nghèo đói”. Câu nói ấy không phải không có cơ sở. Bởi những năm 90 của thế kỷ trước, thậm chí đầu những năm 2000, bản Làng Sáng và nhiều bản vùng cao ở Tà Xùa từng là nơi thuốc phiện hiện diện khắp nơi.
Hệ lụy không chỉ dừng ở sức khỏe, mà kéo theo cả một vòng luẩn quẩn đói nghèo, thất học. Trẻ em không được đến trường, lớn lên lại tiếp tục con đường của cha mẹ: Phá rừng, trồng thuốc phiện, hút thuốc phiện. Số trẻ ở các bản được ra ngoài trung tâm xã học chữ khi ấy “đếm không hết hai bàn tay”.
Tại bản Làng Sáng, năm học này có 7 thầy, cô giáo lên nằm vùng, vận động được 66 học sinh mầm non, 55 học sinh tiểu học trong độ tuổi đến lớp, trong đó có hơn 50% học sinh nữ.
Cũng nhờ đi học, những học sinh mà chúng tôi gặp đều biết nói tiếng phổ thông, không như mấy thế hệ trước, gặp người dưới xuôi lên bản chỉ biết nói 2 từ "Chi pâu" (không biết).
Thầy giáo Lò Văn Huấn, người có nhiều năm cắm bản Làng Sáng, cho biết: “Hiện nay, sau khi học hết lớp 2 ở bản, nhiều em được gia đình cho xuống trung tâm xã học tiếp. Nhận thức của người dân về việc học đã thay đổi rõ rệt”.
Không chỉ trẻ em, phụ nữ trong bản cũng chủ động đăng ký tham gia các lớp xóa mù chữ vào buổi tối.
Ông Hạng A Nủ, người có uy tín của bản Làng Sáng, nói: “Bây giờ không còn trồng thuốc phiện nữa. Quan trọng nhất là trẻ con và phụ nữ được đi học. Có học mới bỏ được hẳn cây thuốc phiện”.
Để có được sự thay đổi hôm nay là cả một quá trình dài đầy khó khăn. Trước đây, đồng bào vùng cao đều cho rằng trẻ em ở nhà còn giúp được việc nương rẫy, học không mang lại lợi ích thiết thực.
Đồng chí Hờ A Mang, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Háng Đồng, hiện là Phó Ban kinh tế Hội đồng nhân dân xã Tà Xùa, khẳng định: “Vận động bà con bỏ cây thuốc phiện đã khó, vận động cho con, cháu họ đi học còn khó hơn. Phải giải thích, lấy thí dụ cụ thể, phải làm cho dân tin. Cùng với tuyên truyền, cấp ủy, chính quyền cơ sở còn hỗ trợ người dân chuyển đổi sản xuất, khai hoang ruộng nước, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi”.
Đến với xã Tà Xùa nói riêng, các xã vùng cao ở Sơn La nói chung, học sinh tại các bản vùng cao về trung tâm xã theo học đã được quan tâm đầu tư nhà bán trú, chu cấp gạo ăn hằng tháng. Bữa ăn hằng ngày trước đây các em phải tự lo thì nay đã có nhân viên nấu ăn ở các trường học đảm nhiệm. Các em chỉ có mỗi nhiệm vụ là học tập.
Hôm trở lại bản Làng Sáng, giữa con đường đất quanh co, tôi tình cờ gặp lại Sồng A Lâu. Cậu bé năm nào giờ đã là Bí thư chi đoàn thanh niên bản.
Lần đầu gặp Lâu cách đây 15 năm, em mới học lớp 5, Trường phổ thông cơ sở Háng Đồng. Nhà có sáu anh chị em, thuộc diện hộ nghèo, Lâu đi học muộn, từng bỏ dở mấy năm nên đến 15 tuổi mới quay lại lớp. Tôi hỏi: “Sao nghỉ học rồi còn đi học lại?”. Lâu trả lời rành rọt: “Vì trong bản ai cũng đi học. Bố mẹ bảo phải học chữ, sau này mới có kiến thức để thoát nghèo”.
Ở nhiều bản, sau khi đoạn tuyệt với cây thuốc phiện, đồng bào cũng dần từ bỏ tập quán phá rừng lấy gỗ, chuyển sang trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng. Nhận thức thay đổi, những cánh rừng dần xanh trở lại, không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn là “lá chắn” bảo vệ môi trường sống cho chính người dân. Nhận thức rõ điều đó, một số người đã trở thành điển hình trong trồng rừng.
Anh Lù A Sáy, ở bản Chung Trinh, chia sẻ: “Khi cùng cán bộ xã, bản đi vận động, nhiều người già nói nếu tôi trồng được pơmu từ hạt thì họ sẽ không ăn cơm nữa. Lúc đó cũng nản, nhưng vẫn quyết làm. Sau nhiều lần thất bại, nay đã thành công. Ngoài cung cấp cây giống, tôi còn trồng được khoảng 2ha pơmu, cây có chu vi 30-40cm”.
Từ những đổi thay về hạ tầng do Nhà nước đầu tư, các bản ở Tà Xùa bắt đầu hình thành phong trào thi đua phát triển kinh tế.
Nếu trước năm 2010, người dân chủ yếu trồng lúa nương năng suất thấp, chăn nuôi nhỏ lẻ, thì nay đã khai hoang gần 1.000ha lúa nước. Những diện tích rừng trước kia từng bị lấn chiếm để trồng thuốc phiện, giờ được phủ xanh bằng dong riềng, sơn tra, sa nhân, thảo quả, chanh leo… Đúng như đồng chí Đỗ Văn Xiêm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tà Xùa, nhấn mạnh: “Giúp đồng bào cũng là giúp chính mình. Phải nâng cao dân trí gắn với phát triển kinh tế thì mới giữ vững được thành quả”.
Dù tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, điều đáng mừng là tư duy sản xuất đã thay đổi rõ rệt. Đồng chí Hạng A Thông, Bí thư, Trưởng bản Làng Sáng, thông tin: Những năm gần đây, bản không còn tái trồng cây thuốc phiện. Các hộ đã chuyển sang phát triển chăn nuôi, trồng trọt với hơn 2.000 con gia súc, gia cầm và trên 1.500ha thảo quả, sắn, rong diềng, lúa nước. Cùng với việc mở mang hạ tầng, nhiều hộ nhanh nhạy còn bắt đầu chuyển sang làm du lịch, mở homestay, nuôi cá hồi phục vụ khách tham quan.
Theo chân anh Mùa Nhè Di, cán bộ xã Tà Xùa, chúng tôi đến bản Chống Tra thăm mô hình phát triển kinh tế gắn với homestay của anh Thào A Lo (sinh năm 1990).
Từ bỏ nương rẫy cũ, chàng trai người H’Mông này mạnh dạn chuyển sang làm du lịch, mở hướng sinh kế bền vững. Anh cũng là gương mặt thanh niên tiêu biểu, từng được trao Giải thưởng Lý Tự Trọng năm 2018.
Không dừng lại ở đó, cùng năm, Thào A Lo đứng ra thành lập Hợp tác xã nông nghiệp du lịch sinh thái Khủng Long Háng Đồng với tám thành viên là các hộ trong bản. Hợp tác xã đã xây dựng được sản phẩm Trà Sơn Long có nhãn hiệu, bao bì riêng; mỗi thành viên thu lãi từ 150 đến 300 triệu đồng mỗi năm, điều mà trước đây nhiều người dân Tà Xùa khó có thể hình dung.
Rời Tà Xùa trong làn sương chiều bảng lảng, hình ảnh những em nhỏ cắp sách đến trường vẫn in đậm trong tâm trí. Tiếng hát “Đi học xa” vang lên đâu đó giữa núi rừng như một lời nhắc về hành trình phía trước không còn gắn với cây thuốc phiện, mà là con đường của tri thức và hy vọng. Tà Xùa hôm nay chưa phải đã hết khó khăn. Nhưng từ “vùng thuốc phiện” một thời, nơi đây đang dần trở thành những xã, bản bình yên, nơi mà người dân biết tự mình thay đổi.
Đồng chí Sa Ngọc Tuấn, Trưởng Công an xã Tà Xùa, cho biết những năm gần đây tình trạng tái trồng cây thuốc phiện và buôn bán ma túy đã giảm rõ rệt. Toàn xã hiện chỉ còn 10 người nghiện được quản lý; an ninh, trật tự ở các bản vùng cao cơ bản ổn định. Tuy nhiên, địa hình hiểm trở, đời sống còn khó khăn vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát, đòi hỏi công tác tuyên truyền, vận động, bám bản, bám dân phải được duy trì thường xuyên, lâu dài.