Cồng chiêng, biểu tượng văn hóa vĩnh hằng của Tây Nguyên

Trên đất nước Việt Nam, không chỉ có người Gia Rai, Ba Na, Xê Ðăng, Giẻ Triêng, M'Nông, Ê Ðê... sống trên mảnh đất Tây Nguyên sử dụng  cồng chiêng trong các sinh hoạt văn hóa. Song có thể khẳng định không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên là phong phú, rực rỡ và sống động nhất. Ngay cả khi so sánh với các cộng đồng dân cư trong khu vực Ðông - Nam Á, thậm chí mở rộng ra thế giới cũng thấy rõ điều này.

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có tài liệu nào chỉ ra chính xác, cồng chiêng ở Tây Nguyên xuất hiện trong đời sống văn hóa bản địa từ khi nào? Chỉ biết, trong các trường ca, các câu chuyện cổ tích của các dân tộc Tây Nguyên đã xuất hiện chiêng cồng. Nhiều học giả trong và ngoài nước tin rằng, nửa đầu thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 là giai đoạn cực thịnh của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Người ta cũng đã cố đi tìm nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên. Trong các di chỉ của người cổ Tây Nguyên đã tìm thấy bằng chứng xác thực về các lò đồng, lò sắt. Tuy nhiên chưa có bằng chứng cho thấy người bản địa Tây Nguyên đúc ra các bộ chiêng cồng. Trước kia, có học giả người phương Tây đưa ra giả thuyết, chiêng cồng của đồng bào Tây Nguyên có nguồn gốc từ những nước thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo Polinedi ở Ðông - Nam Á (?). Giả thuyết này dựa trên cơ sở một giả thuyết khác cho rằng, nhiều tộc người ở Tây Nguyên có chung nguồn gốc với nhóm ngôn ngữ Malayo Polinedi đã vượt Biển Ðông, mang theo chiêng cồng đến cao nguyên miền trung cư ngụ. Nhưng cho đến bây giờ, người ta tạm bằng lòng với kết luận, chiêng cồng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có nguồn gốc từ khu vực người Kinh và từ Lào.

Có một điều chắc chắn rằng, dù xuất xứ ở đâu, nhưng chính mảnh đất Tây Nguyên đã mang đến cho văn hóa cồng chiêng một sức sống, sức hấp dẫn đến kinh ngạc. Sau khi được đúc, cho dù được pha bạc, pha vàng hay thậm chí có cả đồng đen, thì cồng chiêng cũng chỉ là những nhạc cụ thô, vật liệu khởi đầu. Chỉ đến khi được các nghệ nhân người dân tộc qua công đoạn chỉnh âm và làm lễ rước thần linh vào mỗi chiếc cồng chiêng thì những nhạc cụ đó mới hoàn chỉnh, mới có hồn và trở thành những thành viên trong gia đình, trong cộng đồng buôn làng.  Người dân tộc thiểu số ở đây từ lúc sinh ra tới khi chết gắn bó với cồng chiêng đã đành. Ngay cả người Kinh sinh sống nơi đây, người mới tới lần đầu hay người nước ngoài chỉ một lần đến Tây Nguyên, khi tiếp xúc với tiếng chiêng cồng trong các buôn làng cũng bị chinh phục, mê hoặc. Có lẽ, không đâu như ở Tây Nguyên, cồng chiêng có một môi trường, không gian thuận lợi phát triển đến vậy.

Những người đã từng nghe, từng biết đến cồng chiêng đều khẳng định, không gian cồng chiêng bao gồm các yếu tố địa lý, xã hội, con người, kinh tế văn hóa... được kết hợp một cách hài hòa. Nói một cách khác, trong các yếu tố trên, nếu thiếu bất kỳ một yếu tố nào cũng ảnh hưởng tới không gian cồng chiêng. Trong các nước thuộc khu vực Ðông - Nam Á có rất nhiều nước trước kia cũng đã từng phổ biến văn hóa cồng chiêng. Tuy nhiên cho đến giờ, cồng chiêng của nhiều nước không còn là tài sản, nhạc cụ của buôn làng mà đã trở thành nhạc cụ trong các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Phải chăng không gian cồng chiêng ở những nơi đó đã bị phá vỡ (?).

 Trước kia, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đều tin rằng, trong mỗi chiếc cồng chiêng đều có thần linh trú ngụ. Việc nâng niu, bảo vệ và tôn trọng cồng chiêng không đơn thuần vì đó là một nhạc cụ. Trong các câu chuyện cổ tích, các trường ca Tây Nguyên, những tù trưởng hùng mạnh, những người giàu không phải là  có nhiều vàng bạc, nhà cửa, đất đai... Người giàu có, hùng mạnh phải là người có voi cả đàn, trâu bò nhiều như lá trong rừng. Và trước hết phải có chinh chiêng lớn nhỏ treo đầy vách, trống lớn để choán góc nhà, ghè rượu bày hàng hàng, lớp lớp. Chiêng cồng tuy là biểu tượng giàu mạnh của từng nhà, nhưng khi sử dụng lại là của cả cộng đồng buôn làng. Chính vì vậy, cuộc sống càng liên kết cộng đồng lại bao nhiêu, giá trị chiêng cồng càng được nhân lên bấy nhiêu. 

Trong hai, ba thập kỷ cuối thế kỷ 20, cồng chiêng ở Tây Nguyên đã từng ở trong tình trạng báo động đỏ. Theo thống kê của các tỉnh Tây Nguyên, trước đây, ở mỗi tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Ðác Lắc, Lâm Ðồng có tới hàng chục nghìn bộ chiêng cồng. Thời đó, hầu như buôn làng nào cũng có một vài bộ chiêng cồng nhỏ, cái lớn thì hàng chục chiếc. Tuy nhiên, đến nay, trong 1.815 buôn làng của Gia Lai chỉ còn lại 5.126 bộ với 87.942 chiếc chiêng cồng. Tương tự, tỉnh Ðác Lắc chỉ còn 3.825 bộ chiêng cồng. Trong vòng 20 năm, từ năm 1982 đến năm 2003 Ðác Lắc mất hơn 6.000 bộ. Tỉnh Lâm Ðồng hiện cũng chỉ còn 3.113 bộ cồng chiêng.

Lý giải tình trạng cồng chiêng biến thành hàng đồng nát, nhiều người cho rằng, chính từ sự thay đổi quá nhanh về mọi mặt kinh tế, xã hội, lối sống, văn hóa và quan hệ giữa các cộng đồng và con người. Ngoài ra còn phải kể đến trình độ học vấn và khoa học kỹ thuật của các tộc người Tây Nguyên cũng như sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mỗi ngày một gia tăng...

Không thể phủ nhận rằng, từ sau ngày giải phóng đến nay đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên được nâng lên rõ rệt. Ðồng bào Tây Nguyên đã thoát khỏi cách làm ăn: phát, đốt, chọc, trỉa; quanh năm bốn mùa đóng khố, cởi trần và thường trực nỗi đói cơm, nhạt muối. Khái niệm tài sản của họ cũng đã thay đổi. Giàu có không đồng nghĩa với nhiều chiêng, lắm ghè rượu quý nữa. Họ đã có cách đánh giá sự giàu có, no đủ như người Kinh, người Mường... Ðời sống vật chất, văn hóa ngày càng cao, chắc chắn không nhiều người còn tin rằng, trong mỗi cái chiêng cồng đều có thần linh trú ngụ.

Cồng chiêng là sợi dây vô hình để họ "đối thoại" với người đã khuất. Và họ cũng biết rằng, để giãi bày tình cảm, đời sống văn hóa của buôn làng, dòng họ ngoài tiếng cồng chiêng còn rất nhiều cách khác. Cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng cao, sức mạnh của mỗi gia đình, bản thân đã được nhân lên. Chính vì vậy, sự gắn kết cộng đồng trong sản xuất, săn bắn, bảo vệ tính mạng... cũng bớt dần.

Và chiêng cồng không còn là sợi dây quan trọng để gắn kết cộng đồng nữa. Tập quán chung sức phát nương làm rẫy đã được thay đổi bằng hình thức canh tác lúa nước, trồng cao-su, cà-phê, hồ tiêu, chè. Hình ảnh người dân tộc thiểu số  lái máy cày, bơm nước tưới cà-phê, vườn cây ăn trái đã thay thế những hình ảnh cả buôn xúm nhau bắc máng nước, chặt hạ cây cối làm nương rẫy.

Tây Nguyên đã không còn hình thức cả buôn làng tập trung đi săn, dồn bắt thú rừng bằng cách đào hầm, đốt lửa. Thay vào đó là hình ảnh người dân chăn nuôi gia súc, thả cá... riêng biệt. Hình ảnh buôn làng cũng đã đổi thay. Những ngôi nhà dài bằng chất liệu tranh tre, nứa lá, gỗ với nhiều thế hệ quây quần được thay bằng nhà gạch lợp ngói, xi-măng, tôn, có vườn rau, chuồng chăn nuôi gia súc bao bọc. Ðặc biệt, những buôn làng định cư của các công trình thủy lợi, thủy điện hoặc các chương trình, dự án của Nhà nước thì hệt như làng xóm của người Kinh. Có lẽ, chưa có một công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về âm thanh của tiếng chiêng cồng trong nhà rông, nhà ở tường gạch mái tôn so với tiếng chiêng cồng ngân lên trong những mái nhà tranh tre, nứa lá. Nhưng chắc chắn, chỉ bằng trực giác cũng có thể thấy rõ hình ảnh, âm thanh cồng chiêng sẽ thi vị hơn nhiều nếu nó ngân lên trong ngôi nhà tranh tre, nứa lá, bên bếp lửa nhà sàn.

Còn có một nguyên nhân nữa cũng rất nguy hiểm tới không gian cồng chiêng. Trong nhiều năm qua, do bị kẻ xấu xúi giục, nhiều buôn làng đã đi theo Tin lành Ðề Ga. Theo Tin lành Ðề Ga có nghĩa là phải từ bỏ nhiều thứ, trong đó bắt buộc phải bỏ cồng chiêng. Hiện tượng cồng chiêng qua một đêm từ vật thiêng trở thành đồ đồng nát thường xảy ra ở những buôn làng có nhiều người theo Tin lành Ðề Ga. Theo năm tháng, những tác động theo chiều hướng bất lợi đã hủy hoại dần môi trường, không gian văn hóa cồng chiêng. Ðã có thời gian rất dài, cả năm tỉnh Tây Nguyên đều ở trong tình trạng "chảy máu cồng chiêng".

Ðể bảo tồn và phát triển, tôn vinh giá trị văn hóa cồng chiêng, và ngay từ những năm mới giải phóng,  ngành văn hóa - thông tin các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Ðác Lắc, Lâm Ðồng đã dày công tổ chức các đợt khảo sát, thống kê số lượng chiêng cồng. Năm 1985, tỉnh Gia Lai - Kon Tum đã phối hợp với Viện Nghiên cứu âm nhạc Việt Nam tổ chức Liên hoan và hội thảo khoa học về cồng chiêng với quy mô lớn và nghiêm túc. Sau đó, một cuốn kỷ yếu về văn hóa cồng chiêng ra đời. Cho đến nay, đó vẫn là cuốn sách nghiên cứu về văn hóa cồng chiêng nghiêm túc và có chất lượng. Từ đó đến nay, cứ hai năm một lần ở cấp huyện, xã và bốn năm một lần ở cấp tỉnh, Gia Lai kiên trì tổ chức liên hoan cồng chiêng.

Ðiều đáng ghi nhận là lần liên hoan sau luôn có chất lượng cao hơn lần trước. Các tỉnh Ðác Lắc, Kon Tum, Lâm Ðồng và tỉnh mới tách Ðác Nông cũng có nhiều hoạt động tương tự. Cùng với hàng vạn nghệ nhân không chuyên sử dụng chiêng cồng và hàng chục nghệ nhân người Gia Rai, Ba Na, Xê Ðăng, Giẻ Triêng, Ê Ðê, M'Nông... suốt đời âm thầm sống trong các buôn làng theo đuổi nghề "lên dây chiêng" là những hoạt động liên hoan cồng chiêng kết hợp với những sinh hoạt văn hóa dân tộc cổ truyền khác, những sự vận động, tuyên truyền giải thích, ngăn chặn việc buôn bán cồng chiêng mang yếu tố phá hoại... đã góp phần tôn vinh văn hóa cồng chiêng trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Tuy nhiên, cho dù văn hóa cồng chiêng đã trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới thì cuộc đấu tranh với "nạn chảy máu cồng chiêng" vẫn chưa chấm dứt. Khả năng văn hóa cồng chiêng dần bị mai một vẫn hiện hữu. Ðể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trở thành giá trị vĩnh hằng rất cần sự quan tâm của các cấp, các ngành và cần sự phối hợp đồng bộ nhằm giữ ổn định lâu dài không gian văn hóa cồng chiêng trong cuộc sống hiện đại.

Có thể bạn quan tâm