Phàm khi người ta thiếu cái gì thì thường hay khao khát điều ấy. Tôi nhiều lúc cứ nhìn cô con gái 20 tuổi của mình, rồi chợt nhớ tới hồi 20 tuổi bọn tôi thế nào? Lớp trẻ bao giờ cũng hay nhìn về phía trước, còn lớp người đi trước hay ngoái lại phía sau. Bây giờ con tôi còn trẻ, mai kia nó cũng sẽ già, cũng sẽ ngoái lại cái ngày hôm nay, tức là "hồi xưa" của nó. Riêng tôi, tôi ngồi tôi kỳ cạch viết lại thời trai trẻ đã qua của tôi cho các con tôi nó đọc, nghĩ rằng các con sẽ hiểu bố và câu chuyện về chú lính mười tám, hai mươi tuổi ở chiến trường thế nào cứ lớn dần lên cùng với ký ức của tôi. Tôi gọi những cuốn sách đã viết ra ấy chính là tuổi trẻ nối dài của tôi vậy.
Ở Huyện đội Khu 8 (tên gọi huyện An Khê, tỉnh Gia Lai hồi chống Mỹ), khi tôi được bổ sung về, chỉ có chưa đầy một trung đội, nhưng bù lại, chúng tôi có cả một làng Đê Chơ Rang, bà con dân tộc Ba Na cùng đội du kích của làng luôn luôn sát cánh cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Có thể nói, thung lũng An Khê, căn cứ quân sự của Mỹ, nơi đóng quân của Sư đoàn không vận số I của chúng, và cũng là nơi hoạt động của chúng tôi, lúc bấy giờ là điểm nóng nhất của chiến trường Tây Nguyên. Huyện đội chúng tôi thường chia ra nhiều cánh công tác. Cánh bắc (phía bắc đường 19), rồi cánh nam (phía nam đường 19). Mỗi "cánh" đôi khi chỉ một, hai tiểu đội. Đôi khi chỉ có vài người. Chỗ tập kết của chúng tôi chỉ cách địch chừng một hai cây số. Thậm chí có thể nghe tiếng chúng nói chuyện, và tất nhiên ngược lại. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là kết hợp các tổ công tác của huyện ủy xây dựng cơ sở, tổ chức đánh du kích (cùng với du kích đánh nhỏ lẻ) trên các tuyến đường và các đồn địch ở vùng ven căn cứ. Bảo vệ và dẫn đường cho bộ đội, nhất là các đồng chí cán bộ của huyện, tỉnh, và của khu, khi các đồng chí đi công tác qua đường 19. Nói chung chúng tôi chỉ là du kích cả về cách sinh hoạt lẫn cách tổ chức đánh địch. Thủ trưởng Hào, Huyện đội trưởng của chúng tôi là một ông già người Quảng Nam, nói tiếng Ba Na như người Ba Na, khiến tôi rất phục. (Hồi ấy chúng tôi mười tám, hai mươi tuổi, nên nhìn thủ trưởng cỡ ba lăm, bốn mươi tuổi, thấy cứ như một ông già!). Nhưng, tôi phục nhất hai người lính, còn kém tuổi tôi, đó là Cầm và Phụng, đều quê Bình Định. Hai em gọi Huyện đội trưởng Hảo, Chính trị viên Thực là thủ trưởng, xưng con. Phụng thì đen nhẻm, bé loắt choắt còn Cầm lại trắng hồng, dáng lộc ngộc. Nhưng, hai em nhanh nhẹn và tháo vát, đến nỗi tôi có cảm giác các em quen với tiếng nổ, quen với mọi sự cố, thấy cái cây đổ thì dọn cành mà đi, hết gạo thì ăn bắp (ngô), ăn củ mì (củ sắn), hết muối thì phải lo xuống ấp mà mua, ăn cà đắng, măng le, đọt thu đủ, mắm cơm, mắm cái với cơm không mà coi như đại tiệc. Vào làng đổi được con iar (con gà), hoặc trận mưa đầu mùa tình cờ vớ được ổ nấm mối, ăn kiểu gì, làm kiểu gì, cái gì các em cũng thạo. Luồn rừng, chạy càn, phục kích, làm nương, phát rẫy, nói tiếng Ba Na - cái gì cũng hay, cái gì cũng giỏi, có thể nói hai em là những người thầy đầu tiên dạy cho tôi biết người lính kiểu du kích như chúng tôi trong cuộc chiến tranh phải như thế nào. Những đêm xuống ấp, những cuộc chống càn cùng bà con Đê Chơ Rang. Những cái tên đồng đội như anh Châu già, anh Hùng, anh Tự, anh Nhiên, thằng Đào, thằng Chung A, thằng Chung B, anh Mười Thử, Chín Thung, anh Quờn, anh Xâng, chị Chín, cô Khanh, anh Bin, thằng Bờn, anh Rin, thằng Khiar, thằng Blet mé Ngươn, già Phới... một thời gắn bó với sự sống còn của chúng tôi. Tóm lại bây giờ là ký ức của tôi. Đó là những lần mò vô ấp quấy rối địch, phá bầu cử, rải truyền đơn cách mạng. Đó là những đêm xuống "sở rau chí nguyện" của địch lấy bắp sú, rau cải. Đó là những đêm cõng hàng, những ngày nằm hầm bí mật, những trận phục đường, phá ấp, những tháng ngày làm rẫy, cùng bà con dân tộc bố phòng... Tôi vẫn còn nhiều chuyện về họ chưa kể được. Tôi vẫn còn nợ cuộc sống thời trẻ của tôi ở trong rừng, còn nợ nhiều trang viết về một thời đạn lửa...
Bạn bè tôi nhiều người bảo, cậu viết còn thiếu nhiều chuyện về thời ấy quá. Đúng vậy, nhưng biết làm thế nào khác được, một khi muốn viết ra ghê gớm mà đến khi ngồi vào bàn vẫn cứ trơ trơ, bảo rằng nhớ gì viết nấy thì hoàn toàn không phải, mà sáng tạo luôn luôn cần đến sự tự do, nhất là tư tưởng của mình. Tôi nghĩ rằng mỗi cuốn sách cũng chỉ đủ sức mang vác nổi đôi ba điều, đôi ba chuyện, cái ước muốn mang hết mọi chuyện vào trong một tác phẩm để nói lên hết thảy mọi điều mà ta mong muốn, ấy là điều phi thực tế. Tôi có đọc được một câu của một nhà phê bình văn học Mỹ khi viết về Hê-min-uây thế này: "Trong vầng hào quang của sự nghiệp chói lọi ấy, những câu chuyện của Hemingway đôi khi chỉ giống như bản sao chép nhợt nhạt so với bản gốc" (bản thân tác giả).
Cuộc đời ngang tàng của Hemingway và những điều mà ông từng trải quả thật đáng kính phục vô cùng. Nhưng, nhà phê bình bảo ông biểu đạt nó chưa được "ngang nhau" với cái gọi là "bản gốc" trong các tác phẩm của ông thì quả thật, đó là một sự đòi hỏi rất cao.
Tôi sẽ quyết không lặp lại mình trong những cuốn sách sắp tới, điều quan trọng nhất đối với tôi (lúc này) có lẽ là ở chỗ ấy.
Nhà văn TRUNG TRUNG ĐỈNH