Chuyện về một người lính pháo binh

NDĐT - Ông nói kể với chúng tôi rằng, cái ngày ông lên đường vào nam chiến đấu, cũng để lại mối tình đầu thơ mộng với người bạn học cùng làng. Năm tháng chiến trường biền biệt, không thư từ để rồi người con gái ấy đã nuốt lời thề “cỏ may”. Vậy nhưng ông vẫn hừng hực sống và chiến đấu để trở thành người sĩ quan pháo binh gan dạ, dũng cảm, với một khả năng tính toán siêu nhanh nhạy như một cỗ máy. Ông đã đi hết chiến tranh chống Mỹ cứu nước rồi bảo vệ biên giới Tây Nam, đi sâu vào giải phóng nhân dân nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng của bọn Khơ Me đỏ. Ông là Đại úy Nguyễn Hữu Thanh ở thôn Minh Lạc, xã Cẩm Yên, (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh).

Thương binh Nguyễn Hữu Thanh-người chiến sĩ pháo binh dũng cảm
Thương binh Nguyễn Hữu Thanh-người chiến sĩ pháo binh dũng cảm

Lời thề giữ vẹn
Những ngày tháng 4 lịch sử này, chúng tôi về thôn Minh Lạc, được gặp, trò chuyện cùng Đại úy Nguyễn Hữu Thanh trong căn nhà hạnh phúc với người vợ của ông là bà Hà Thị Huấn, ông bà đã có một tình yêu tình như một chuyện cổ tích thời hiện đại.
Sinh ra đúng vào dịp chiến thắng Điện Biên Phủ, và được bố me đặt cho ông cái tên gắn liền với sự kiện giải phóng cánh đồng Mường Thanh. Nguyễn Hữu Thanh là con trai cả của cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Vân, người có uy tín lớn trong làng, một lòng theo Đảng, Bác Hồ đi làm cách mạng.

Khi con trai chưa học hết chương trình phổ thông, ông Vân đã truyền lửa cho con bằng câu nói: “Con đi bộ đội vào tháng 5 này là dịp sinh nhật Bác Hồ, hãy gắng lòng trở thành một người lính tốt”.
Nặng mang lời dặn ấy của cha, tháng 5 năm 1972 khi chưa tròn 18 tuổi, ông Thanh có mặt huấn luyện chiến sĩ mới ở Đại đội 45, Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 22B, Quân khu 4 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Kết thúc 6 tháng huấn luyện, chiến sĩ trẻ Nguyễn Hữu Thanh cùng đồng đội hành quân vào nam theo đường từ Lào vào ngã ba Đông Dương, sang Cam-pu-chia, Kà Tum, Lộc Ninh, dừng chân ở Trảng Ba Chân (Quốc lộ đỏ), trở thành một trinh sát pháo binh thuộc Đại đội 16, trực thuộc Sư đoàn 75 (Quân khu 7).

Sau ngày Quân đoàn 4 được thành lập, sáp nhập và được điều chuyển về công tác tại Lữ đoàn Pháo binh 434 của quân đoàn. Ông từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; đã để lại một phần thân thể của mình trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế cao cả trên chiến trường B, chiến trường K với thương tật.
Ông bảo rằng, cuộc đời trinh sát pháo binh của ông kỳ cục lắm. Với vũ khí trong tay là một bảng lô-ga-rít (dùng để phục vụ tính toán trong điều khiển bắn pháo), một tấm bản đồ khu vực, ống nhòm, bàn đạc… và trang bị, vũ khí cá nhân, chỉ thế thôi nhưng ông đã chuẩn bị phần tử, đo đạc chính xác cho nhiều trận pháo nã xuống đầu kẻ thù khiến chúng khiếp đảm.
Từ ngày vào nam, lần đầu tiên ông được tham gia đánh lớn là trận hiệp đồng tác chiến quân binh chủng cuối tháng 4-1974 ở núi Cậu, suối ông Hùng (Bến Cát, Bình Dương). Lúc ấy, ông đã là hạ sĩ, tiểu đội phó trinh sát pháo binh. Được tiếp xúc Tư lệnh Hoàng Cầm với lời động viên “cậu là lính trinh sát pháo binh, nhanh nhạy, bây giờ tìm đường dẫn tôi lên vị trí đài quan sát để kiểm tra”. Khi đó ông đã rất lo lắng nhưng rất phấn khởi vì lần đầu tiên được tiếp xúc với Tư lệnh, ông đã làm tròn nhiệm vụ đưa thủ trưởng lên đài quan sát, kiểm tra phần tử bắn. Tư lệnh tỏ ý khen ngợi và ngay trong trận hiệp đồng quân binh chủng đó, pháo nòng dài 85 ngắm bắn của đơn vị ông đã khống chế, tiêu diệt hoàn toàn sân bay dã chiến tại Bến Cát.
Trong trận “trinh sát chiến lược” Đường 14 - Phước Long, đây là trận đánh lớn, địch ở đây rất đông, thế bố trí phòng thủ của chúng rất kiên cố vững chắc. Trong trận này, tiểu đoàn pháo 85 li của Lữ đoàn Pháo binh 434 có nhiệm vụ “khai hỏa”, bắt pháo địch phải “câm họng”. Xong, kiềm chế, giam chân địch. Với các phần tử bắn chính xác, trực tiếp chi viện cho các lực lượng ta tiến công vào các chi khu quân sự Phước Bình, điểm cao Bà Rá… Chỉ còn lại trung tâm thị xã Phước Long.

Khi các cánh quân của Sư đoàn 7 khống chế được vòng ngoài, pháo binh Lữ 434 được lệnh nã vào trung tâm thị xã đúng vào rạng sáng ngày 2-1-1975, chế áp toàn bộ lực lượng địch trong thị xã. Sau khi khống chế được địch, pháo binh kịp chuyển làn bắn chế áp, để các lực lượng bộ binh ta đồng loạt tiến công vào các mục tiêu đã xác định trong thị xã. Nhưng đến ngày 6-1, ta mới hoàn toàn làm chủ và giải phóng được Phước Long.

Hoàn thành các mục tiêu, đơn vị của ông được rút về chuẩn bị pháo chi viện cho các lực lượng ta mở toang trận tuyến phòng ngự “cánh cửa thép” Xuân Lộc. "Đây là trận chiến đấu vô cùng ác liệt. Nhưng lực lượng pháo binh chúng tôi lúc này đã có kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng quân binh chủng rất nhịp nhàng. Khi được giao nhiệm vụ phối thuộc với mũi tiến công chủ yếu của Sư đoàn 7 do Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong chỉ huy, chúng tôi đã thực hiện nhiệm vụ hết sức ngon lành, nhất là xác định phần tử ngắm bắn trực tiếp cho pháo. Giải phóng Xuân Lộc, chúng tôi được lệnh cơ động đánh thẳng vào Trảng Bom, ngã tư Tam Hiệp, Thủ Đức… góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc" - cựu chiến binh Nguyễn Hữu Thanh kể lại.

Vợ chồng thương binh Nguyễn Hữu Thanh luôn bên nhau những lúc vết thương chiến tranh của ông tái phát.

Ba lần bị thương và được lời… nên duyên chồng vợ
Cuối năm 1974, khi được cử đi trinh sát để chuẩn bị cho trận đánh ở Dầu Tiếng, giáp ranh giữa Tây Ninh và Bình Dương. Tốp trinh sát năm người, trong đó có ông Thanh. Theo yêu cầu của trên là dù gặp địch cũng không được nổ súng. Trên đường đi, không may tốp trinh sát vướng mìn của Mỹ, một đông chí trong tốp hi sinh, ông Thanh đi đầu nhưng không chết, chỉ bị thương và ngất lịm, ông được đồng đội đưa về tuyến sau. Sau hai tháng nằm điều trị ở quân y viện tiền phương, ông tiếp tục tham gia vào các chiến dịch quan trọng. Đây là lần bị thương thứ nhất.
Giải phóng miền nam, đất nước hòa bình thống nhất, ông Thanh được phong quân hàm Thiếu úy, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 14, trực tiếp chỉ huy trinh sát pháo binh Lữ đoàn 434, tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam. Năm 1977, đơn vị hành quân sang Cam-pu-chia. Cuối năm 1978, trong trận đánh ác liệt trên tuyến đường 13, 14 và đường 10… giữa quân tình nguyện Việt Nam với Sư đoàn 703, Sư đoàn 660 của Khơ Me Đỏ tại khu vực chùa Bạch Bột (Cam-pu-chia), ông Thanh bị pháo kích và bị thương lần thứ hai vào ổ bụng, ruột của ông đứt thành mấy khúc….
Bị thương lần thứ hai nặng hơn, ông phải nằm viện điều trị dài ngày, phẫu thuật cắt nối ruột già. Nhưng sau năm tháng điều trị, ông tiếp tục trở lại chiến trường tham gia chiến đấu cho đến ngày đất nước chùa tháp được giải phóng.
Sau gần 10 năm xa quê kể từ ngày nhập ngũ, đầu năm 1981, ông Thanh được cấp trên cho về quê nghỉ phép một tháng. Đây cũng là lần về quê duyên phận, ông quen bà Hà Thị Huấn, người vợ sau này của ông.
Ông kể, " Hồi đó khi đó biết tôi chuẩn bị về phép, Chính trị viên Hà Văn Ngọ đã nhờ người em, người đồng đội Nguyễn Hữu Thanh chuyển giúp chút quà về cho cha mẹ quê ở Kẻ Gỗ và đồng thời thêm một lời dặn dò rằng; "thôi, lần này mày về quê, đưa quà sang thăm ông bà rồi hỏi con em gái của tao mà lấy làm vợ đi, nó cũng được gái lắm đấy, mà mày cũng già nhăn răng còn gì nữa". Được lời như cởi tấm lòng, Đại úy Nguyễn Hữu Thanh về quê với bao nỗi niềm, khát vọng. Quãng đường từ Cam-pu-chia về nước và từ Thành phố Hồ Chí Minh ra ga Vinh đã rất vất vả, nhưng mong ngóng được gặp cô em gái của Chính trị viên đại đội còn nóng bỏng hơn nhiều.
Về tới quê, chỉ nghỉ một buổi chiều ở nhà, sáng hôm sau, ông đã đạp xe đi tìm nhà bố mẹ Chính trị viên Ngọ ở Kẻ Gỗ. Tới nơi, sau khi trao quà cho bố mẹ, có cô gái Hà Thị Huấn cũng có mặt hôm ấy. Sức cuốn hút qua câu chuyện ông Thanh kể về chiến trường, kể về sức khỏe của anh Ngọ đã làm cô thôn nữ Hà Thị Huấn chăm chú dõi theo. Khi bố mẹ Chính trị viên Ngọ hỏi thăm về tình hình của ông và gia đình, ông trả lời ông bà và nói luôn ý của anh Ngọ, rằng muốn ông làm em rể.

Cũng từ đây, mối tình của ông và cô thôn nữ tên Huấn được vun đắp mỗi. Khi chỉ còn 10 ngày phép cuối cùng, gia đình ông đã làm cơi trầu, chai rượu, lễ vật sang dạm hỏi vợ cho ông. Lễ cưới rất đơn sơ nhưng vô cùng ấm cúng giữa quê nghèo Cẩm Yên, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh).
Hạnh phúc đôi lứa chỉ đong đầy chưa được tuần lễ. Cưới xong, kịp để lại trong người vợ trẻ đứa con đầu lòng, ông vội vã lên đường trả phép trở lại chiến trường Cam-pu-chia với một gánh nặng trách nhiệm trên vai của người có vợ. Lúc này, đơn vị đã chuyển lên Công pông Chư Năng, giáp biên giới Cam-pu-chia và Thái Lan.
Trong trận tiến công giải tỏa núi Kim Ri (Công Pông Chư Năng) với tư cách là chủ nhiệm trinh sát Lữ đoàn 4, ông lại bị thương lần thứ ba ngay trên đài quan sát phần tử bắn. Khi ông vừa leo lên đài quan sát, pháo địch kích ràn rạt vào vị trí trận địa ta. Địch đã phát hiện ra đội hình ta, ông nhanh chóng lệnh cho đơn vị vào vị trí ẩn nấp, còn mình cơ động phía sau, bị một mảnh đạn pháo cắt xẹt mất một phần cánh tay trái…

Khi cơ động được về vị trí trú ẩn, ông ngất lịm, sau đó ông được đưa về bệnh viện tiền phương 116 của ta tại Phnom penh. Cũng tại đây, nỗi mừng vui khôn xiết khi ông được tin cô con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thúy đã chào đời. Gửi thư về nhà, ông không dám kể về mình đã bị thương, nhưng ở nhà vẫn biết. Người vợ trẻ hết sức lo lắng cho ông, chị Huấn đã khóc rất nhiều vì thương ông.

Thời bình và mong muốn khắc khoải của người thương binh
Năm 1986, ông được điều về nước và điều trị dài ngày tại bênh viện 175, bệnh viện 4 Quân đoàn 4, rồi chuyển ra đoàn An dưỡng 200 tại Nghệ An. Nghĩa tình nhất với ông là thủ trưởng Quân đoàn 4 lúc này hết sức động viên, cấp đất, làm nhà, đưa vợ con vào ở cùng và sắp xếp công việc. Nhưng ông đã từ chối, vì ở nhà, một mình bà Huấn chăm sóc bố mẹ chồng, nuôi con nhỏ, nên không dễ vào nam.
Nhọc nhằn, vất vả là thế nhưng bà không hề có một lời phàn nàn. Khi thời điểm khó khăn nhất về kinh tế, cũng là lúc người thương binh Nguyễn Hữu Thanh trở về nhà với vợ con, lần lượt có thêm cô con gái và cậu con trai nữa chào đời. Lúc này, bệnh đường ruột của ông ngày thêm nặng. Bà Huấn dốc hết mọi tài sản, chạy chữa nhiều nơi, chăm sóc ông từng bữa ăn, giấc ngủ, sinh hoạt cá nhân. Vết thương chiến tranh tái phát đã bắt ông phải giải phẫu hoàn toàn hậu môn để lắp hậu môn nhân tạo trực tiếp bên hông. Cũng nhờ đồng đội những năm tháng chiến đấu ở Cam-pu-chia, ông gần như được điều trị miễn phí tại Bệnh viện Trung ương 108.

Vì sức khỏe suy giảm, sau một chuyến điều trị dài ở bệnh viện trở về, ông cũng xin thôi giữ chức Cấp ủy viên, Chủ tịch hội cựu chiến binh của xã, sống đạm bạc với chế độ trợ cấp thương binh. Những lúc thấy khỏe trong người, ông giúp bà làm năm sào ruộng khoán, vẫn một tay đạp xe đạp lên miền trung du mua chè về cho bà chạy chợ, nuôi con.
Cho đến thời điểm hiện nay, mỗi khi trái gió trở trời, vết thương cũ tái phát, đường ruột không còn lành lặn, nên ăn uống không được bao nhiêu, sức khỏe ngày càng giảm sút.

Nguyện vọng của ông lúc này là, cậu con trai đã học xong Đại học Sư phạm Huế khoa giáo dục thể chất, được vào công tác trong môi trường quân ngũ, tiếp bước cha anh. Tôi còn chút sức khỏe, gia đình đồng đội từng chiến đấu có nhu cầu, tôi sẽ đi tìm mộ phần đồng đội, những người ông đã trực tiếp chôn cất họ. Đó là niềm mong mỏi lớn nhất của chiến sĩ trinh sát pháo binh Lữ đoàn 434, người ba lần bị bom đạn quân thù cướp đi vĩnh viễn một phần cơ thể.

Có thể bạn quan tâm