Năm 16 tuổi bác tham gia phong trào Ðông Dương Ðại hội, có chân trong Ủy ban hành động đấu tranh hợp pháp chống sưu cao thuế nặng, làm cổ động viên cho báo Le Peuple (Dân Chúng), La Lutte (Ðấu Tranh).
Sau cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa, giữa lúc giặc Pháp truy nã ác liệt các đảng viên cộng sản và những người yêu nước, bác vẫn tham gia phong trào yêu nước ở địa phương, công khai hội họp nói chuyện thời sự, đọc sách báo tuyên truyền vào tổ chức cách mạng.
Bác Tám ngồi trầm ngâm một lát rồi vào chuyện:
| |
- Tôi vinh dự được kết nạp Ðảng ngày 1-5-1945. Ðây là ngày nhớ nhất trong đời tôi. Từ ngày đó tôi như thể được chắp thêm cánh để hoạt động cách mạng. Suốt mấy tháng trời, không khí chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền rất khẩn trương.
Tỉnh ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại ngã tư Giồng Dầu (nay là ngã tư Phú Khương) để thành lập Ủy ban khởi nghĩa gồm năm người: Nguyễn Tẩu, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Cái, Lê Lợi và Võ Tấn Nhứt. Phong trào cách mạng ở tỉnh Bến Tre lúc ấy vô cùng sôi động. Ðồng bào, thanh niên trai tráng đều ra đường bàn tán thời sự. Các nhóm khác hăng hái tập luyện quân sự do Ðảng lãnh đạo.
Ngày 24-8-1945, Mặt trận Việt Minh tỉnh Bến Tre ra mắt công khai, thì sáng hôm sau 25-8-1945, cùng với TP Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre nổ ra thành công. Lực lượng Thanh niên cứu quốc được bố trí khắp nơi đảm nhiệm việc canh gác, giữ gìn trật tự công cộng toàn thị xã chỉ bằng gậy tầm vông, giáo mác, vài cây súng lửa nhưng hành động rất dũng cảm, khí thế bốc cao ngùn ngụt. Tòa bố, kho bạc, trại giam, nhà dây thép, bót cảnh sát, trại bảo an binh, nhà tỉnh trưởng và nhiều công sở khác đều bị chiếm đóng. Cờ, biểu ngữ, khẩu hiệu, truyền đơn chuẩn bị từ những ngày trước giờ đây được tung ra khắp đường phố từ nội thị ra tới ngoại thành, xã ấp ở vùng xa tạo nên một không khí sôi động, hừng hực chưa từng thấy.
Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, bác Tám Xã là đảng viên của chi bộ xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày. Bác được tổ chức phân công đi học sử dụng vũ khí ở trại Bảo an tỉnh.
Bác Tám nhớ lại:
- Sau ngày giành chính quyền, tôi được điều động về Ban Tham mưu tỉnh. Ngày 8-2-1946, địch đánh chiếm thị xã Bến Tre. Hai ngày sau chúng đưa quân xuống chiếm Mỏ Cày và lần lượt lan ra chiếm cù lao Minh, cù lao Bảo - hai vùng đất rộng lớn nằm ở hai bên con sông Hàm Luông. Ủy ban kháng chiến tỉnh cho lập chiến khu, bố trí lực lượng ngăn chặn và đánh trả quân Pháp các nơi. Tỉnh ủy quyết định thành lập đại đội Hồ Chí Minh, tuyển chọn 20 chiến sĩ, cán bộ dũng cảm nhanh chóng tổ chức hai chiếc thuyền buồm vượt Biển Ðông ra miền trung nhận vũ khí đạn dược của miền bắc theo lệnh Bác Hồ chi viện cho miền nam. Tôi may mắn được chọn trong số hai mươi anh em này...
... Giữa tháng 4-1946, chúng tôi đến Phòng Nam Bộ ở số 19 phố Hàng Vôi. Gặp ngay các đại biểu Quốc hội như: Nguyễn Văn Cái, anh Phạm Văn Bạch (Bến Tre), anh Côn, anh Thanh Sơn (Gò Công), anh Nguyễn Văn Khâm (Trà Vinh)... các anh cho chúng tôi sang làm việc với Bộ Quốc phòng để làm thủ tục chi viện vũ khí chuyển vào nam. Bộ lại cho làm việc trực tiếp với Cục Quân khí, quân giới nhằm giải quyết yêu cầu cho Nam Bộ.
Giữa lúc đó có cuộc họp đặc biệt của Thường trực Quốc hội với Chính phủ để chuẩn bị chuyến đi của Bác Hồ và phái đoàn của Chính phủ sang Pháp dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô vào đầu tháng 9-1946, cán bộ ở miền nam ra được cụ Nguyễn Văn Tố - Thường trực Quốc hội mời dự thính ở hai bên cánh gà. Thật may mắn, hơn mọi điều mong ước, hôm đó chúng tôi tận mắt nhìn thấy Bác Hồ và các vị lãnh đạo cao cấp của Ðảng và Chính phủ.
Tới cuối tháng 5-1946, nhờ chạy đôn chạy đáo khắp nơi trong và ngoài thủ đô Hà Nội mà hai anh Năm Tất, Tám Xã đã có được số vũ khí, đạn dược chất đầy hai toa xe lửa rồi có thêm người nữa áp tải về Quảng Ngãi. Nhưng tới khi các anh quay vào Quảng Ngãi thì hai thuyền đã vào nam rồi. Vì lúc đó tại Quảng Ngãi có kho vũ khí của Trung ương đưa vào trước để chi viện cho miền nam nên các anh em ở lại mượn trước được chở vào nam ngay.
Kể tới đây, bác Tám cười nói:
- Vì nóng ruột cho miền nam có súng đạn đánh giặc ngay nên anh Sáu Hân chỉ huy không đợi thủ tục giao nhận của Bộ Quốc phòng. Mãi tới năm 1996, có dịp gặp lại nhau tại TP Hồ Chí Minh thì anh Năm Tất tỏ vẻ trách cứ anh Sáu Hân: "Tôi ra Hà Nội giữa tháng
4-1946, chạy vắt giò lên cổ để xin thêm "đồ bén" và làm thủ tục cho anh em. Thế mà các cậu đã nhổ neo mất rồi. Chán quá!".
Anh Sáu Hân cười giải thích:
- Thấy anh đi lâu quá sợ trễ mùa gió bấc nên anh em phải mượn trước một trung đội súng đạn chạy về ngay. Nếu chậm trễ chờ tới gió mùa năm sau mới về trong nam thì làm sao đánh giặc. Nhờ nó mà tụi này đánh nhiều trận ra hồn lắm!
Ðể vận chuyển vũ khí và phương tiện cho kháng chiến Nam Bộ UBKCMN Việt Nam cho thành lập Ban tiếp tế miền nam. Ban này đã tổ chức nhiều đoàn thuyền chở hàng cho miền nam. Sau khi ở Hà Nội về Quảng Ngãi, Năm Tất và Tám Xã lại cho chở tiếp thêm chuyến thuyền thứ tư về Bến Tre. Chuyến này được giao cho chị Nguyễn Thị Ðịnh, Trưởng đoàn phụ nữ Bến Tre sau khi ra Trung ương báo cáo tình hình rồi về ở tại Sông Cầu nhận súng đạn và chờ gió. Như vậy, từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc, chỉ tính riêng con đường xuyên Biển Ðông xa bờ, ta đã đi được 36 chuyến thuyền buồm ra miền trung, miền bắc nhận vũ khí, tiền, vàng, đưa cán bộ trở về Nam Bộ mà hai phần ba là vào cửa biển Bến Tre.
Trong số này chỉ có hai thuyền bị địch bắt, ta buộc phải đánh chìm làm mất một số vũ khí, đạn dược và hy sinh hai chiến sĩ, nhưng không có thuyền nào chở vũ khí lọt vào tay địch. Các đoàn thuyền đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc tạo thêm sức mạnh cho quân dân miền nam chiến thắng trên các chiến trường. Chính con đường truyền thống này đến thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mới được gọi là "đường Hồ Chí Minh trên biển".
Trong thời gian lưu lại Quảng Ngãi, bác Tám Xã được chỉ định làm trưởng KÐ100, Sáu Thanh làm phó và có thêm 5 cán bộ học Trường quân chính ra. Nhiệm vụ của kho là trung chuyển, tiếp nhận vũ khí khối lượng lớn, bảo quản, sửa chữa và khi có lệnh thì giao cho các chuyến vận tải, các đơn vị.
Ở một địa điểm khác, kho VK50 được xây dựng để chế tạo lựu đạn do anh Võ Thành Phát phụ trách. Anh Phát quê ở Gò Công, sinh năm 1915, tham gia cách mạng tháng 8-1945, vào đại đội Hồ Chí Minh rồi cùng vượt biển ra Quảng Ngãi chung với bác Tám Xã. Kể thêm chuyện này, bác Tám Xã coi đó là một kỷ niệm đau buồn nhất trong đời:
- Chẳng may trong lúc thử lựu đạn có cần mới, anh Phát ngã xuống không trăng trối một lời! Anh vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất của đình Thi Phổ (huyện Mộ Ðức ngày nay). Từ đó, binh công xưởng VK50 mang tên anh: BCX.VTP. Sau ngày miền nam giải phóng, con cháu của VTP đã nhờ tôi tìm lại hài cốt anh. Tôi viết thư nhiều lần cho Sở LÐ, TB và XH Quảng Ngãi và huyện Mộ Ðức nhưng đều trả lời không tìm thấy tên liệt sĩ VTP ở nghĩa trang. Năm 1998, tôi có dịp may ra Mộ Ðức, đi tới gần cầu sông Vệ cố nhớ lại nơi có ngôi mộ của anh với bia đá cẩm thạch nhưng nay chỉ còn là khu đất trồng khoai lang xanh mướt. Hỏi thăm thì một cụ già ở gần đó cho biết, năm 1953 có một bộ phận ở Tuy Hòa - Quy Nhơn ra bốc cốt đem xuống thuyền nhỏ chở đi, không biết đi đâu và không báo cho địa phương. Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đốt nén hương tưởng niệm người bạn chiến đấu thân thương, bốc nắm đất đem về TP Hồ Chí Minh mà vẫn cứ hoài niệm về hài cốt anh!
Bác Tám vốn rất cẩn thận. Sau khi kể lại một số sự kiện lịch sử kháng chiến Nam Bộ thời chín năm mà bác đã trực tiếp tham gia và một số bài viết, tài liệu có liên quan, bác còn đưa cho xem luôn phiếu đảng viên của bác.
Theo đó, thời gian 7-1947 - 1-1948 có ghi: "Ðược phân công vào đội hải ngoại Cửu Long II phụ trách điện đài hành quân về Hà Tiên".
Như vậy, sau khi giao tiền bác Tám Xã đã ở lại Thái-lan một thời gian rồi được sung vào đội quân hải ngoại hầu hết là thanh niên Việt kiều yêu nước trở về tham gia đánh giặc Pháp. Ban hải ngoại của UBKCMN Việt Nam có một bộ phận ở Thái-lan và một bộ phận ở Cam-pu-chia với nhiệm vụ mua vũ khí trang bị cho các đội quân tuyển chọn từ Hội Việt kiều yêu nước.
Ở Thái-lan, ta tổ chức được hai đội quân phiên hiệu Cửu Long I về khu 9 và Cửu Long II về khu 7, 8. Sau đó, ở Cam-pu-chia ta tổ chức được hai đội quân Việt kiều có tên "Bộ đội độc lập số 1", "Bộ đội Trần Phú" rồi lần lượt có thêm từ sáu đến tám đơn vị nữa đều là tình nguyện quân hải ngoại trở về chiến đấu chống ngoại xâm trong thời kỳ chín năm.
Nói chuyện một lúc, bác Tám đến lục trong đống sách, tài liệu cũ được đóng gói cẩn thận, lấy ra tập sách nhỏ có tựa đề Những ông thủy lôi. Bác nói:
- Khi về đến khu 9 thì Ban ngoại vụ lại điều tôi lên khu 7 để tham gia đánh thủy lôi tàu Mỹ Stin A-đu-ran ở ngã ba Dần Xây sông Lòng Tàu giữa lòng rừng Sát thuộc huyện Cần Giờ vào lúc xế trưa ngày 7-2-1949. Trận này do đồng chí Lê Ðức Anh chỉ huy.
Tàu Mỹ đầu tiên theo bước chân xâm lược Pháp vào nước ta đã bị ta đánh hư hỏng nặng. Trận đánh thủy lôi này đã gây tiếng vang lớn. Bác còn tham gia đánh tiếp vài trận nữa ở vùng rừng Sát ngập mặn này.
Tới tháng 7-1949, bác được điều trở lại chiến trường Cam-pu-chia để thành lập đại đội 651/T và giúp bạn xây dựng căn cứ Tây Nam. Phát triển phong trào du kích đồng thời xây dựng các lực lượng vũ trang tạo điều kiện cho nhân dân hai nước hợp tác kháng chiến.
Từ 1950-1953, bác Tám phụ trách lo nguồn tài chính mua vũ khí và tuyển tình nguyện quân Việt kiều đưa về Nam Bộ tăng cường lực lượng chiến đấu.
Sau Hiệp định Geneve, 1954, bác Tám được lệnh không đi tập kết ra bắc mà tiếp tục hoạt động trong cơ sở Việt kiều ở Campuchia. Từ 1956-1965, bác làm Bí thư BCS Ðảng bộ Việt kiều ở tỉnh Prây Viêng. Rồi sau đó phụ trách BCS Ðảng bộ thành phố Phnom Penh chuyên về công tác trí vận. Ở đây, bác còn làm báo đồng thời tổ chức đưa Việt kiều về căn cứ kháng chiến của ta ở Tây Ninh, Phước Long cho đến ngày miền nam hoàn toàn giải phóng.