Chuẩn giáo viên gắn với lòng yêu nghề

Yêu nghề là tiêu chuẩn số một, tiêu chuẩn quyết định mọi thành công của nghề dạy học. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, có nơi, có lúc lòng yêu nghề, mến trẻ, đạo đức nghề nghiệp bị xem nhẹ. Rất may trong dự thảo chuẩn giáo viên tiểu học (GVTH), "yêu nghề" được đặt ngay sau "yêu nước", phẩm chất nghề nghiệp, trách nhiệm nhà giáo đi liền với trách nhiệm công dân. Cũng là một trong trăm nghìn nghề trong xã hội, nhưng đặc trưng của nghề dạy học là kiến tạo nên nhân cách thế hệ trẻ, vì vậy giáo viên phải có một tấm lòng cao thượng, một nhân cách đẹp đẽ để thiết kế, dựng xây nên những tâm hồn đẹp. Chính vì vậy, xã hội tôn vinh họ là những "kỹ sư tâm hồn".

Yêu nghề vừa là phẩm chất đạo đức, vừa là phương tiện hành nghề của nhà giáo. Một nhà giáo có trình độ chuyên môn cao, có tay nghề vững, nhưng không yêu nghề thì bài giảng trở nên vô hồn. Ngược lại, có nhiều nhà giáo trình độ chuyên môn không cao, nhưng nhờ sự yêu nghề, mến trẻ đã giúp họ đạt được nhiều thành công trong công việc của mình. Việc yên tâm với nghề dạy học, đối xử công bằng với học sinh (mức A); quan tâm từng học sinh trong dạy và học (mức B); tận tụy với nghề... tạo điều kiện để học sinh học tập và phát triển (mức C); rồi "say mê nghề nghiệp" (mức D) như chuẩn đã nêu ở phần "phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị" đã nêu bật được tầm quan trọng của yêu cầu này.

Ðã có người cho rằng từ "yêu nghề" là cái gì đó trừu tượng, thậm chí sáo rỗng. Nhưng thực tiễn giáo dục của đất nước ghi nhận chính lòng yêu nghề giúp hàng nghìn GVTH vượt qua khó khăn để bám trường, bám lớp, bám bản, bám làng ở mọi nơi khó khăn nhất. Có những thầy giáo, cô giáo trình độ chỉ là sư phạm 7+1, 7+2, nhưng nhờ "chất lửa" của trái tim yêu nghề đã làm nên những điều phi thường trong sự nghiệp "trồng người" của mình. Nếu phải so đo, tính toán, ai dám dành trọn cả cuộc đời dạy học của mình cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao. Có người ra trường, đến với bản vùng cao xa xôi khi cả bản chưa một người nói sõi tiếng phổ thông, vậy mà bằng sự yêu nghề, say nghề của mình, khi về hưu, bản vùng cao ấy đã là một điểm sáng văn hóa.

Tôi đã gặp một thầy giáo ở Trường trung học Trung Thượng (Quan Sơn, Thanh Hóa) gần mười năm lăn lộn ở khu lẻ xa nhất. Tôi cũng đã trò chuyện với nhiều cô giáo "cắm bản" ở những bản xa xôi mà việc dỗ học sinh đi học còn khó hơn cả việc dạy cho các em biết đọc, biết viết. Trong số họ có người được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Chiến sĩ thi đua, nhưng phần đông số họ danh hiệu chỉ là "cô giáo của bản" và lòng tin yêu, kính trọng của phụ huynh học sinh.

Có thể nói, yêu nghề, mến trẻ là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp bao trùm lên đời sống tinh thần của mỗi giáo viên. Nếu hôm nay chúng ta không nhìn qua "lăng kính" này sẽ không cắt nghĩa được sức mạnh nào đã giúp đội ngũ giáo viên vượt qua thời kỳ đói kém. Khi tôi ngồi viết những dòng này, trong tôi vẫn còn in đậm hình ảnh cô giáo Quý, gương mặt tái mét khi đi dạy xóa mù chữ ở bản về. Thuở ấy, đói quay, đói quắt, 13 kg lương thực phải đi lấy ba lần, mà chỉ được 2,5 kg gạo, còn lại là sắn lát. Trường luôn luôn thiếu giáo viên, các thầy giáo, cô giáo phần lớn phải dạy hai ca.

Hôm ấy, cô Quý dạy xong buổi sáng không kịp ăn cơm trưa, vội  xuống bản dạy lớp xóa mù chữ. Về đến nhà cô lả đi vì đói, vậy mà chiều đến cô lại dạy ca chiều, ai ngăn cũng  không được. Lý do cô đưa ra là: Học sinh đi cả hàng chục cây số mới đến trường, để các em nghỉ học thương lắm! Làm hiệu trưởng, thấy anh em vất vả, tôi thương đến ứa nước mắt. Nhưng biết làm sao được, ai cấm được cô thương trò mà thuở ấy, nào có đồng tiền dạy thay giờ đâu! Giờ đọc báo, thấy có người kết tội giáo viên nhiều quá, tôi cứ ước một điều, giá họ trèo núi vượt sông đến với giáo viên để viết về lòng yêu nghề, sự cống hiến hy sinh của họ!

Nói đến giáo viên "cắm bản, cắm làng" là nói đến đội ngũ giáo viên tiểu học. Cái cách dạy ba lớp, mỗi lớp dạy ba em cũng chỉ có ở GVTH. Yêu cầu phải dạy được, tiến tới dạy tốt chín môn cũng chỉ có đối với GVTH. Cái thời gian lao động mỗi tuần tới 25 tiết (chưa kể buổi 2) cộng thêm công tác chủ nhiệm lớp, cũng chỉ có ở GVTH... Nói tóm lại, GVTH luôn luôn phải vất vả, chấp nhận khó khăn, cho nên đòi hỏi lòng yêu nghề mãnh liệt hơn. Có người nói, bây giờ giáo viên đã thành thợ dạy học. Ðiều đó có thể đúng một phần ở bậc học nào đó, còn đối với GVTH thì cô giáo phải như mẹ hiền. Hơn lúc nào hết học sinh tiểu học cảm nhận rất cụ thể, rõ ràng, tinh tế tình cảm của cô giáo.

Có một thực tế là, đội ngũ GVTH hiện nay, sau khi đã học hết phổ thông, tốt nghiệp trường sư phạm thì cơ bản đã đủ kiến thức để hành nghề. Ðối với GVTH không đòi hỏi kiến thức quá cao, sâu, nhưng họ cần hiểu biết rộng. Những kiến thức ấy trong trường chưa đủ, mà phải cần tích lũy trong cuộc sống. Vậy nên phải yêu nghề, trân trọng với nghề mới có ý thức, đủ kiên nhẫn để bổ sung kiến thức cho mình. Bây giờ người ta nói về đổi mới phương pháp dạy học rất nhiều. Các nhà khoa học giáo dục cũng đưa ra nhiều mô hình dạy học theo phương pháp. Thế nhưng, những phương pháp ấy thành công thì người GVTH phải biết "thổi hồn" vào. Muốn vậy, nhà giáo phải say mê khám phá, chắt chiu từng mẫu cải tiến, sáng tạo. Nhưng thứ ấy như xăng, như dầu, như mỡ, để "cỗ máy phương pháp dạy học" vận hành trơn tru.

Yêu nghề, say mê với nghề là phẩm chất quan trọng của mỗi giáo viên. Ðó cũng là truyền thống tốt đẹp của đội ngũ nhà giáo Việt Nam. Qua bao thăng trầm của đời sống xã hội, GVTH nói riêng, đội ngũ nhà giáo nói chung vẫn miệt mài mở những trang đời mới, góp phần xây dựng nên thế hệ trẻ Việt Nam yêu nước, thương nòi, giàu lòng quả cảm và óc sáng tạo. Ðây thật sự là phẩm chất vàng của đội ngũ nhà giáo Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm