Đây là dấu mốc quan trọng trong lộ trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia, góp phần phát triển nền nông nghiệp minh bạch, hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam và củng cố niềm tin của người tiêu dùng trong nước cũng như thị trường quốc tế.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường, giúp minh bạch toàn bộ chuỗi sản xuất, truy xuất được nguồn gốc nông sản, qua đó góp phần bảo đảm chất lượng, giữ vững uy tín và nâng cao giá trị nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo Phó Thủ tướng, truy xuất nguồn gốc hiện không còn là yêu cầu riêng đối với một số mặt hàng hay thị trường xuất khẩu mà đã trở thành xu thế tất yếu trong quản lý chất lượng, minh bạch thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Để phát triển bền vững, ngành nông nghiệp cần xây dựng thương hiệu gắn với hệ thống truy xuất nguồn gốc đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.
Phó Thủ tướng yêu cầu việc triển khai phải bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và khả thi. Trước mắt, cần ưu tiên áp dụng đối với các ngành hàng chủ lực, sản phẩm có sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đặc biệt tại các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU) và Hoa Kỳ. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế, tiêu chuẩn, hạ tầng dữ liệu để từng bước mở rộng hệ thống đối với các nhóm sản phẩm khác.
Phó Thủ tướng cũng đề nghị các bộ, ngành và địa phương tăng cường phối hợp, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia hệ thống.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh cần coi truy xuất nguồn gốc là công cụ nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, không phải là một thủ tục hành chính phát sinh thêm; việc triển khai phải đơn giản, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn sản xuất của người dân.
Đại diện địa phương, ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, Hà Nội mong muốn có một hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất trên phạm vi cả nước; đồng thời kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hỗ trợ các địa phương trong kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và nghiên cứu lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc bắt buộc đối với một số nhóm sản phẩm phù hợp.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam gồm ba hợp phần: cổng tra cứu dành cho người dân; hệ thống quản trị phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia chuỗi; cùng ứng dụng trên thiết bị di động.
Hệ thống được xây dựng theo kiến trúc mở, bảo đảm khả năng mở rộng và vận hành liên tục; tích hợp công nghệ ký số điện tử, chuỗi khối (blockchain), định danh sản phẩm theo tiêu chuẩn GS1 quốc tế và mã QR GS1 Digital Link, góp phần bảo đảm tính xác thực, minh bạch và toàn vẹn dữ liệu.
Kết quả kiểm thử cho thấy hệ thống có khả năng đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu mỗi giây, 30.000 lượt quét tem truy xuất đồng thời, hơn 85 triệu lượt quét mỗi ngày và xử lý khoảng 50 bản tin dữ liệu dung lượng 2 MB/giây, đáp ứng yêu cầu triển khai trên phạm vi toàn quốc.
Đến nay, hệ thống đã tích hợp dữ liệu của hơn 18.500 sản phẩm thuộc 181 nhóm sản phẩm của 170 doanh nghiệp tại 24 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố. Riêng đối với sản phẩm sầu riêng xuất khẩu, có 16 doanh nghiệp tham gia thí điểm; bước đầu đã có 6 container xuất khẩu thành công sang thị trường Trung Quốc thông qua việc áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử.
Hệ thống cũng đang được kết nối với các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu nông sản, các địa phương đã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, đồng thời bảo đảm kết nối, liên thông với các bộ, ngành liên quan và Trung tâm Dữ liệu quốc gia theo quy định về an toàn thông tin và an ninh mạng.
Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai, ưu tiên các nhóm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu và các sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch nguồn gốc.