Đổi mới mô hình phát triển kinh tế

Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi mạnh mẽ mô hình phát triển. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra tầm nhìn quan trọng về một mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập vào năm 2035. Đây không chỉ là sự thay đổi về mô hình kinh tế mà sâu xa hơn là sự thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế, tổ chức lực lượng sản xuất, huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực và phát huy vai trò, sức mạnh của Nhà nước, doanh nghiệp...

Loạt bài viết “Đổi mới mô hình phát triển kinh tế” sẽ đi sâu làm rõ những nội dung cốt lõi của mô hình phát triển kinh tế mới, từ đó phác họa những động lực tăng trưởng và không gian phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam.

Bài 3: Mở rộng không gian phát triển mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã mở ra nhiều không gian phát triển mới. Nhưng để chuyển hóa những tiềm năng này thành nền tảng bứt phá cho phát triển kinh tế-xã hội, đòi hỏi cần thay đổi tư duy, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường chất lượng thể chế và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ.

Tạo thêm dư địa phát triển

Để tạo dư địa cho phát triển kinh tế-xã hội, phát triển không gian ngầm đô thị rất cần thiết, nhất là khi không gian trên mặt đất ngày càng cạn kiệt. Theo Chủ tịch Hội quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam (VUPDA) Trần Ngọc Chính, hiện nay, các thành phố của Việt Nam chỉ mới quy hoạch trên mặt đất, chưa có chiến lược phát triển không gian ngầm toàn diện, thiếu bản đồ địa chất ngầm, quy trình phê duyệt chính sách chậm chạp,… Điều này dẫn đến tắc xe, ngập úng, ô nhiễm môi trường và lãng phí thời gian.

Tuyến đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông (Ảnh: Phạm Công)

Tuyến đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông (Ảnh: Phạm Công)

Trong khi đó, lợi ích của quy hoạch ngầm sẽ góp phần giải quyết tắc đường bằng cách chuyển giao thông xuống dưới, tăng diện tích xanh trên mặt đất, xử lý thoát nước mưa hiệu quả, tạo điều kiện phát triển kinh tế bền vững. Do đó, cần có quy hoạch toàn diện cả trên và dưới mặt đất với sự hỗ trợ từ công nghệ hiện đại và chính sách rõ ràng.

Việc khai thác không gian ngầm không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược phát triển bền vững, đòi hỏi sự cam kết bằng chính sách, pháp luật cũng như nguồn lực đầu tư dài hạn.

Không gian ngầm sẽ là nơi phát triển các ngành kinh tế, dịch vụ, tận dụng những thế mạnh về nguồn lực đất đai, văn hóa, lịch sử, không gian ngầm… cũng như phát triển các loại hình giao thông công cộng lớn như Metro, Mororail,… tạo nên bức tranh toàn cảnh hiện đại cho đô thị, nơi thu hút hơn 70% dân số cả nước

Thi công hệ thống Metro tại Hà Nội (Nguồn: Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội)

Thi công hệ thống Metro tại Hà Nội (Nguồn: Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội)

Một trong những thách thức trong phát triển đô thị nói chung và đô thị biển nói riêng là ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo PGS. TS Đỗ Tú Lan, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, do đó, cần ưu tiên lồng ghép các yêu cầu về phát triển không gian xanh, bảo về hệ sinh thái tự nhiên, quản lý tài nguyên nước, giảm phát thải trong mọi cấp độ quy hoạch và phát triển đô thị.

Trong đó, cần đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hệ thống cảm biến thời gian thực và mô hình dự báo số để nâng cao độ chính xác của dự báo, cảnh báo sớm và hỗ trợ ra quyết định trong quản lý rủi ro thiên tai; hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan; tăng diện tích cây xanh, công viên và mặt nước đô thị; phát triển hệ thống thoát nước và chống ngập hiện đại,…

Các giải pháp giảm thiểu rủi ro phải được đặt ở vị trí trung tâm của quy hoạch, trong đó cần chuyển dịch từ tư duy "chống đỡ" sang tư duy "thích ứng chủ động". Một đô thị an toàn trước thiên tai sẽ tạo nền tảng vững chắc nhất để người dân yên tâm sinh sống, sản xuất, kinh doanh và đóng góp vào mục tiêu phát triển chung của đất nước.

Tàu du lịch bên sông Sài Gòn. (Ảnh KHÔI ĐẶNG)

Tàu du lịch bên sông Sài Gòn. (Ảnh KHÔI ĐẶNG)

Phát triển kinh tế không gian tầm thấp

Nghị quyết 19-NQ/TW cũng đặt ra giải pháp mới là phát triển kinh tế không gian tầm thấp trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng, có năng lực cạnh tranh cao.

PGS. TS. KTS Nguyễn Vũ Phương cho rằng, từ góc độ quy hoạch, cần phân biệt ba khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là không gian tầm thấp; hạ tầng tầm thấp và kinh tế không gian tầm thấp.

Trong đó, kinh tế không gian tầm thấp được hiểu là hệ sinh thái kinh tế-công nghệ hình thành từ việc khai thác, quản lý và sử dụng không gian tầm thấp thông qua UAV/Drone và các phương tiện bay tiên tiến nhằm tạo ra giá trị cho giao thông, logistics, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, quản lý đô thị và các dịch vụ công cộng.

Đây là một lớp không gian phát triển mới của đô thị. Sự xuất hiện của lớp không gian này mở rộng đáng kể khả năng tổ chức các hoạt động kinh tế-xã hội trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn chế và áp lực hạ tầng ngày càng gia tăng.

Bên cạnh vai trò hỗ trợ quản lý, không gian tầm thấp còn tạo điều kiện hình thành các dịch vụ và mô hình kinh doanh mới như: logistics đô thị, giao hàng chặng cuối, du lịch trải nghiệm…, tạo ra giá trị kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng sống và hiệu quả cung cấp dịch vụ đô thị.

Các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao của Viettel nghiên cứu, sản xuất được trình diễn tại gian hàng Công nghiệp Quốc phòng tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao của Viettel nghiên cứu, sản xuất được trình diễn tại gian hàng Công nghiệp Quốc phòng tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Giới thiệu thiết bị UAV do Viettel sản xuất tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Giới thiệu thiết bị UAV do Viettel sản xuất tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Trình diễn sản phẩm UAV do Viettel sản xuất tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Trình diễn sản phẩm UAV do Viettel sản xuất tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Gian hàng sản phẩm công nghiệp công nghệ cao của Viettel tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Gian hàng sản phẩm công nghiệp công nghệ cao của Viettel tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024

Theo Trung tâm Truyền thông Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Trung Quốc hiện là quốc gia phát triển kinh tế không gian tầm thấp nhanh nhất thế giới. Tại nhiều thành phố như: Thâm Quyến, Quảng Châu, Hợp Phì đã xây dựng hành lang bay đô thị, trung tâm logistics drone, hệ sinh thái taxi bay.

Vốn đầu tư cho nền kinh tế tầm thấp của Trung Quốc năm 2025 khoảng 210 tỷ USD với phạm vi khai thác dưới 1.000m. Điều này cho thấy, tiềm năng của kinh tế tầm thấp rất lớn. Đối với Việt Nam, đây vừa là cơ hội để bứt phá trong phát triển đô thị thông minh, nhưng cũng tạo thách thức lớn về quản trị đô thị và an ninh không gian.

TS. KTS Trương Văn Quảng, Phó Tổng thư ký VUPDA cho biết, hiện nay Việt Nam vẫn thiếu hành lang pháp lý đồng bộ, quy hoạch không gian tầm thấp, tiêu chuẩn hạ tầng, cơ chế quản lý bay đô thị… Ngoài ra, vấn đề quốc phòng-an ninh và bảo vệ dữ liệu sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng, đặt ra yêu cầu mới về quy hoạch, quản lý không gian và khung pháp lý phát triển đô thị trong thời gian tới.

Do đó, các chính sách phát triển kinh tế không gian tầm thấp trong đô thị cần sớm ban hành, bao gồm: xây dựng chiến lược quốc gia, xác định đây là một cấu phần của kinh tế số và đô thị thông minh; tích hợp vào quy hoạch đô thị trên cơ sở bổ sung hành lang bay, không gian logistics trên không, hạ tầng skyport, quy hoạch giao thông 3D; hoàn thiện cơ sở pháp lý về quy chuẩn xây dựng, quản lý drone, cấp phép bay,… Đồng thời, thí điểm tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng để rút kinh nghiệm và nhân rộng.

Sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Hướng dẫn nông dân vận hành thiết bị bay không người lái (drone) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Hướng dẫn nông dân vận hành thiết bị bay không người lái (drone) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi tư duy quản trị biển

Việt Nam có đường bờ biển dài và nếu tổ chức tốt, toàn tuyến ven biển có thể trở thành không gian đô thị-công nghiệp-du lịch năng động. Hiện nay, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh khiến phần lớn các tỉnh, thành phố đều có biển là một dấu hiệu rõ ràng về định hướng phát triển quốc gia trong thời kỳ mới, xoay trục mạnh về phía biển.

Nghị quyết 19-NQ/TW nhấn mạnh, đưa biển trở thành không gian phát triển chiến lược, hành lang kinh tế hướng biển và đại dương làm trục phát triển chủ đạo, lan toả tới trung du, miền núi và biên giới…

Để cụ thể hoá tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026. Việc sửa đổi luật lần này kỳ vọng sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.
Cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Toản

Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo Luật chính là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian và môi trường biển.

Cảng Quốc tế Cái Mép-Thị Vải, cửa ngõ kết nối giao thương hàng hoá đường thuỷ giữa các tỉnh Nam Bộ và trung chuyển quốc tế. (Ảnh NGUYỄN VĂN KHỞI)

Cảng Quốc tế Cái Mép-Thị Vải, cửa ngõ kết nối giao thương hàng hoá đường thuỷ giữa các tỉnh Nam Bộ và trung chuyển quốc tế. (Ảnh NGUYỄN VĂN KHỞI)

Trong giai đoạn phát triển mới, biển không chỉ là nơi chứa tài nguyên mà còn là không gian phát triển chiến lược đa ngành, đa mục tiêu, gắn với kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.

Do đó, dự thảo Luật bổ sung cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo hướng phù hợp Quy hoạch không gian biển quốc gia, đồng thời cũng đề xuất cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù nhằm phát triển các ngành kinh tế biển mới như: năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung hay các mô hình kinh tế carbon thấp,...

Để xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và có năng lực cạnh tranh hàng đầu khu vực trong các ngành công nghiệp biển, đưa biển trở thành không gian phát triển chiến lược, động lực tăng trưởng dài hạn theo tinh thần của Nghị quyết số 19-NQ/TW, thể chế hiện đại và khoa học-công nghệ tiên tiến chính là hai trụ cột tạo nên bước đột phá chiến lược.
PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam

Trong kỷ nguyên kinh tế biển xanh, lợi thế cạnh tranh không còn được đo bằng chiều dài bờ biển hay trữ lượng tài nguyên, mà bằng chất lượng thể chế và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ.

Mặc dù Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài, vùng biển rộng, lại nằm trên tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp bậc nhất thế giới, nhưng sức mạnh kinh tế biển vẫn chưa phản ánh đầy đủ những lợi thế đó. Không gian biển “đa tầng nấc” còn rất lớn, song năng lực khai thác, quản trị và các giá trị gia tăng được tạo ra từ biển vẫn còn khiêm tốn.

Do đó, cần chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy quản trị tổng hợp không gian biển; từ phát triển theo ngành sang phát triển gắn với quản trị không gian biển dựa vào hệ sinh thái và cơ chế phối hợp liên ngành; từ dựa vào khai thác tài nguyên vật chất sang dựa vào thể chế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Trước hết, thể chế cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất và kiến tạo, trong đó, cần đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các ngành kinh tế biển mới.

Thể chế không chỉ có chức năng quản lý mà phải trở thành động lực phát triển, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Sau đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, đảo Việt Nam để hỗ trợ chuyển mạnh từ phương thức quản lý biển theo ngành sang quản trị tổng hợp và thống nhất không gian biển.

Cùng với thể chế, khoa học, công nghệ phải trở thành trụ đỡ cho mọi hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý biển. Biển xa, biển sâu là không gian phát triển mới của Việt Nam, nhưng cũng là nơi đòi hỏi trình độ khoa học, khả năng can thiệp của công nghệ và suất đầu tư rất cao. Chính phủ đã xác định chuyển đổi số là một trong những động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tới.

Các địa phương cần xây dựng quy hoạch tích hợp trên nền tảng liên kết "núi-rừng-biển", hình thành các hành lang logistics, trung tâm cảng biển, khu công nghiệp xanh, đô thị biển và chuỗi giá trị kinh tế biển gắn với lợi thế vùng miền. Chỉ khi phát huy được sức mạnh tổng hợp của không gian lãnh thổ mới, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính mới thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế bền vững.

Không gian phát triển giờ đây không còn chỉ là lãnh thổ đất liền theo địa giới hành chính mà mở rộng ra thành những không gian mới: đất liền-vùng biển-vùng trời-lòng đất-không gian số… Việc mở rộng, liên kết đồng bộ các không gian phát triển là yêu cầu tất yếu để Việt Nam tạo dựng những động lực tăng trưởng mới, dài hạn. Khi các không gian phát triển mới này được tổ chức lại theo hướng đa tầng, đa cực, kết nối bằng hạ tầng hiện đại, dữ liệu và khoa học công nghệ, sẽ có thêm nhiều dư địa để kích hoạt các động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh quốc gia.

Ngày xuất bản: 8/2026
Chỉ đạo: Nguyễn Thị Thu Hà
Nội dung: Xuân Thuỷ, Lê Quân
Trình bày: Việt Hải
Ảnh: Ngọc, Lan, Khôi Đặng, Nguyễn Văn Khởi, Phạm Công, Viettel

(Bài có sử dụng hỗ trợ của AI trong thiết kế)