Hiến pháp năm 1992 với 12 chương, 147 điều (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) được xây dựng trên cơ sở tư tưởng và nội dung của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (được thông qua tại Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991) và các văn kiện Ðại hội Ðảng khóa VI (1986 - 1991), khóa VII (1991 - 1996). Trong đó, có ba Ðiều quy định liên quan đến vấn đề lao động, việc làm, cụ thể:
Ðiều 55
Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.
Ðiều 56
Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.
Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.
Ðiều 63
... Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật...
Hiến pháp năm 1992 ra đời, đến nay đã trải qua bốn khóa Quốc hội (từ khóa IX đến hết khóa XII). Quốc hội đã ban hành nhiều Luật về các nhóm vấn đề lao động, việc làm như:
Bộ luật Lao động được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23-6-1994 và có hiệu lực từ ngày 1-1-1995. Bộ luật này đã được sửa đổi, bổ sung trong các năm 2002, 2006 và 2007 và kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 1-5-2013).
Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được thông qua ngày 29-11-2006.
Luật Dạy nghề (được thông qua ngày 29-11-2006).
Luật Bảo hiểm xã hội (được thông qua ngày 29-6-2006).
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã tạo tiền đề hình thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về việc làm tương đối đầy đủ, đồng bộ và có tính pháp lý cao (giai đoạn trước Nhà nước điều hành các vấn đề lao động, việc làm bằng các văn bản dưới luật như Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư...), tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các vấn đề về lao động, việc làm theo quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy và bảo đảm việc làm cho người lao động, đồng thời, từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về việc làm.
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 ra đời trong bối cảnh đất nước ta đang trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Nhà nước phát triển "nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa" nên những vấn đề chủ yếu của kinh tế thị trường nói chung, của thị trường lao động, việc làm nói riêng mới chỉ ở giai đoạn sơ khai nên các quy định về lao động, việc làm trong Hiến pháp năm 1992 có những hạn chế, khiếm khuyết nhất định:
Một là, Hiến pháp mới chủ yếu quy định các chính sách cho lao động có quan hệ lao động (lao động có giao kết hợp đồng lao động, lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp(1)) mà chưa quy định chung cho toàn bộ lao động.
Hai là, các chính sách về lao động, việc làm được quy định đan xen, thiếu sự rõ ràng, rành mạch, chưa được quy định một cách cô đọng và rõ nghĩa, đồng thời, cũng chủ yếu quy định cho lao động có giao kết hợp đồng lao động (lao động làm công ăn lương, khu vực hành chính - sự nghiệp).
Ba là, các quy định còn nhấn mạnh tới trách nhiệm chính của Nhà nước trong giải quyết việc làm (do ảnh hưởng một phần bởi tư duy trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung), dẫn tới sự thụ động, ỷ lại của người lao động trong nhận thức về tạo và tự tạo việc làm, triệt tiêu tính năng động và động lực tìm kiếm việc làm phù hợp của người lao động.
Bốn là, các chính sách phát triển thị trường lao động chưa rõ, chưa tạo hành lang pháp lý nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thị trường lao động, bảo đảm quyền lợi cho người lao động và người sử dụng lao động, thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc sửa đổi Hiến pháp là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)(2), văn kiện Ðại hội Ðảng lần thứ XI và kế thừa có chọn lọc Hiến pháp hiện hành. Theo Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, các quy định về lao động, việc làm được quy định trong hai Ðiều: Ðiều 38 và Ðiều 61.
Ðối với Ðiều 38 (sửa đổi, bổ sung Ðiều 55, Ðiều 56): Dự thảo sửa đổi Hiến pháp quy định:
1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc.
2. Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng người lao động chưa thành niên trái pháp luật.
Khoản 1, Ðiều 38 nêu nội dung "công dân có quyền làm việc": trong thực tế hiện nay do chính sách phân phối thu nhập cùng với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện một bộ phận dân cư có nguồn thu nhập khá nên nếu theo cách hiểu "quyền" có thể thực hiện, có thể không thì họ có thể không cần làm việc mà vẫn có thể bảo đảm cuộc sống, trong khi Việt Nam đang hướng tới xây dựng một xã hội mà mọi người có khả năng lao động đều phải làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời là sự đóng góp đối với công cuộc xây dựng đất nước. Mặt khác, "lao động" là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, "làm việc" là hoạt động liên tục nhằm đạt một kết quả có ích hoặc làm những công việc thuộc một nghề nghiệp nào đó(3), do đó, đề nghị tiếp tục khẳng định "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân" và đưa vào thành một khoản của Ðiều 38.
Hiện nay, theo khuyến cáo của Tổ chức Lao động quốc tế, mục tiêu mà các quốc gia hướng tới trong giải quyết việc làm cho người lao động là cơ hội cho nam giới và nữ giới có được việc làm bền vững và năng suất trong điều kiện tự do, bình đẳng và bảo đảm nhân phẩm, theo đó, khái niệm này bao gồm sáu khía cạnh:
+ Cơ hội việc làm (sự cần thiết phải bảo đảm khả năng tìm việc cho tất cả mọi người có nhu cầu về việc làm).
+ Làm việc trong điều kiện tự do (cá nhân phải được tự do lựa chọn việc làm mà không bị ép buộc).
+ Việc làm năng suất (nhằm bảo đảm cho người lao động có điều kiện sinh sống ở mức chấp nhận được).
+ Bình đẳng trong công việc (người lao động phải được đối xử bình đẳng và công bằng về cơ hội việc làm).
+ An toàn tại nơi làm việc (người lao động cần được giúp đỡ, bảo vệ, bảo đảm sức khỏe, các chế độ hưu trí và sinh sống).
+ Bảo đảm nhân phẩm tại nơi làm việc (người lao động cần được tôn trọng tại nơi làm việc và được tham gia vào quá trình ra các quyết định liên quan đến điều kiện làm việc).
Do đó, nội dung tại khoản 1, Ðiều 38 có thể nghiên cứu, bổ sung "Công dân được bảo đảm cơ hội việc làm, có quyền lựa chọn việc làm và nơi làm việc".
Khoản 2, Ðiều 38 đề nghị xem xét, sửa đổi thành "Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng lao động trái pháp luật" vì nội dung của Hiến pháp phải quy định chung cho tất cả, các quy định riêng cho từng nhóm lao động (ở đây là lao động chưa thành niên) sẽ được các Luật điều chỉnh, quy định cụ thể.
Ðối với Ðiều 61 (sửa đổi, bổ sung Ðiều 55, Ðiều 56): Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định:
1. Tổ chức, cá nhân được khuyến khích, tạo điều kiện để tạo việc làm, có thu nhập thỏa đáng cho người lao động.
2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Tại Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước chịu trách nhiệm chính trong giải quyết việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động từ khâu đào tạo, phân bổ theo chỉ tiêu pháp lệnh đến sử dụng và thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với người lao động. Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phân bổ nguồn lực lao động chủ yếu được thực hiện thông qua thị trường, sự dịch chuyển và di chuyển lao động sẽ diễn ra mạnh mẽ, tuân theo các quy luật của thị trường, chịu sự tác động mạnh mẽ của quan hệ cung - cầu lao động và giá cả sức lao động, từ đó, góp phần giải phóng triệt để tiềm năng sức lao động của người lao động, thay đổi nhận thức của người lao động từ chỗ thụ động sang chủ động tìm kiếm việc làm, phát huy tính năng động xã hội trong tạo việc làm, chống tư tưởng, tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên, cùng với những tác động tích cực, nền kinh tế thị trường cũng dẫn tới nhưng tác động tiêu cực do sự cạnh tranh gay gắt cùng với những quy luật về lợi ích trong nền kinh tế, những đối tượng yếu thế trong xã hội sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận và tìm kiếm các cơ hội việc làm.
Chính vì vậy, Nhà nước một mặt phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cơ chế việc làm theo định hướng thị trường, mặt khác, thực hiện các chính sách nhằm mở rộng và phát triển nhiều cơ hội việc làm hơn nữa cho người lao động; chịu trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy việc làm với thu nhập bảo đảm cuộc sống, cải thiện môi trường làm việc, bảo đảm an toàn nơi làm việc; khuyến khích, hỗ trợ mọi tổ chức, cá nhân mở rộng các cơ hội việc làm cho người lao động; tạo các điều kiện thúc đẩy cơ hội việc làm cho người lao động thông qua hỗ trợ phát triển thị trường lao động; hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế tìm kiếm việc làm.
Do đó, đề nghị sửa khoản 1, Ðiều 61 như sau: "Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ việc mở rộng và phát triển việc làm; ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động, bảo đảm an toàn nơi làm việc, cải thiện môi trường làm việc cho người lao động; ưu tiên hỗ trợ các nhóm đối tượng khó khăn trong tìm kiếm việc làm".
(1) Năm 2012, chỉ chiếm 33,8% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế.
(2) "... Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn. Có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để phát triển; điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư".
(3) Từ điển tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, 2010.
NGUYỄN ÐẠI ÐỒNG
Cục trưởng Cục Việc làm Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội