Chính sách của Nhà nước về hoạt động liên quan chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trở thành một yêu cầu cấp bách và đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là thước đo quan trọng để khẳng định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh của nền kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đổi mới công nghệ và bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khỏe cho con người, động vật, thực vật, tài sản và môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và xã hội.

Mặt khác, Việt Nam đã chính thức là thành viên WTO, nghĩa vụ của chúng ta phải thực thi Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT/WTO). Do vậy, hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa cần tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời phải ngăn chặn sản xuất, lưu thông sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, không an toàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, người sản xuất và lợi ích chung của quốc gia. Việc Quốc hội khóa XII thông qua Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhằm tạo nền tảng và hành lang pháp lý đầy đủ cho việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, phù hợp thông lệ quốc tế.

Theo quy định của Luật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Về chính sách của Nhà nước đối với hoạt động liên quan chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật quy định như sau:

1. Khuyến khích tổ chức, cá nhân xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến cho sản phẩm, hàng hóa và công tác quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh.

2. Xây dựng chương trình quốc gia nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa.

3. Ðầu tư, phát triển hệ thống thử nghiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

4. Ðẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

5. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; xây dựng ý thức sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa có chất lượng, vì quyền lợi người tiêu dùng, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường; nâng cao nhận thức xã hội về tiêu dùng, xây dựng tập quán tiêu dùng văn minh.

6. Khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia hoạt động thử nghiệm, giám định, kiểm định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

7. Mở rộng hợp tác với các quốc gia, các vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực, tổ chức và cá nhân nước ngoài trong hoạt động liên quan chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tăng cường ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực về kết quả đánh giá sự phù hợp; khuyến khích các tổ chức đánh giá sự phù hợp của Việt Nam ký kết thỏa thuận thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp tổ chức tương ứng của các nước, vùng lãnh thổ nhằm tạo thuận lợi cho phát triển thương mại giữa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ.

Bên cạnh việc quy định các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho các hoạt động liên quan chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật cũng quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm. Ðó là, sản xuất sản phẩm, nhập khẩu, mua bán hàng hóa đã bị Nhà nước cấm lưu thông; sản xuất sản phẩm, xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán hàng hóa, trao đổi; xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán hàng hóa không có nguồn gốc rõ ràng; xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán hàng hóa, trao đổi, tiếp thị sản phẩm, hàng hóa đã hết hạn sử dụng; dùng thực phẩm, dược phẩm không bảo đảm chất lượng hoặc đã hết hạn sử dụng làm từ thiện hoặc cho, tặng để sử dụng cho người; cố tình cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm, kiểm tra, giám định, kiểm định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giả mạo hoặc sử dụng trái phép dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy, các dấu hiệu khác về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc và xuất xứ hàng hóa; che giấu thông tin về khả năng gây mất an toàn của sản phẩm, hàng hóa đối với người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; sản xuất, chế biến sản phẩm, hàng hóa bằng nguyên liệu, vật liệu cấm sử dụng để sản xuất, chế biến sản phẩm, hàng hóa đó; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa để cản trở bất hợp pháp, gây phiền hà, sách nhiễu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân hoặc bao che hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; lợi dụng hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa để gây phương hại cho lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Có thể bạn quan tâm