<p>Bình luận - Phê phán</p>

"Cấy văn hóa", không thể "cấy" bừa!

Trong lịch sử phát triển văn hóa của các dân tộc, có một thực tế là không phải mọi sản phẩm do con người làm ra, dù là nội sinh hay ngoại nhập, đều có khả năng trở thành tài sản văn hóa; sản phẩm ấy chỉ có tư cách là tài sản sau khi đã được bổ sung, sáng tạo, được cộng đồng thừa nhận - thực hành - lưu giữ - truyền bá.

Không phải bất kỳ giá trị văn hóa nào từ bên ngoài cũng có thể "cấy" qua con đường tiếp xúc và giao lưu, trong tình thế của sự áp đặt văn hóa nhằm mục đích đồng hóa, người ta vẫn có thể buộc một văn hóa khác chấp nhận các giá trị của mình, nhất là thời kỳ chủ nghĩa thực dân còn thịnh trị. Ðiều này có thể nhận thấy khi người Tây Ban Nha đến châu Mỹ, quá trình đồng hóa văn hóa diễn ra cách đây mấy trăm năm để lại hệ quả là một loạt nước châu Mỹ sử dụng tiếng Tây Ban Nha... Tương tự như thế, sau hơn 300 năm, người Tây Ban Nha để lại rất nhiều dấu ấn trong đời sống văn hóa của người Phi-li-pin như trong phong tục,

tập quán, lễ hội, cụ thể nhất là việc người dân Phi-li-pin sử dụng phổ biến họ tên theo người Tây Ban Nha; đó là "kết quả của một nghị định của chế độ thuộc địa về phân loại họ, áp dụng hệ thống tên họ Tây Ban Nha đối với những người dân Phi-li-pin". Tuy nhiên, cũng ở Ðông - Nam Á, việc In-đô-nê-xi-a trở thành quốc gia có đông số dân theo Hồi giáo lại diễn ra theo một tình huống khác. Ði cùng với các đoàn thương gia, Hồi giáo đã du nhập vào In-đô-nê-xi-a từ đầu thiên niên kỷ hai, rồi dần dần được đa số dân chúng In-đô-nê-xi-a chấp nhận và tin theo.

Ðặt sang một bên tài năng như là một thành tố của quá trình sáng tạo, xét trong quan hệ nội sinh - ngoại sinh, câu hỏi: tại sao ở Việt Nam, thơ Mới và kịch nói đã ra đời và tồn tại phát triển trong nhiều thập kỷ? Chỉ có thể trả lời rằng: các giá trị văn học - nghệ thuật nước ngoài đã được "cấy" vào văn hóa Việt trong sự tương thích giữa ngoài và trong, cộng sinh với văn học - nghệ thuật Việt Nam trong mối giao cảm giữa tâm thế văn hóa, tâm lý sáng tạo của nghệ sĩ, với tâm lý tiếp nhận của công chúng. Như sân khấu, nếu trong truyền thống của bộ môn nghệ thuật này ở Việt Nam không chứa đựng một số yếu tố gần gũi với nghệ thuật biểu diễn hiện thực tâm lý (hay thể hệ Stanilapxki), công chúng Việt Nam chưa từng làm quen với thủ pháp "hóa thân" từ trước, thì chắc là sân khấu Việt Nam hiện đại khó có thể xuất hiện tên tuổi của những kịch tác giả nổi tiếng ở nửa đầu thế kỷ 20. Ðiều này cho thấy, trong quá trình giao lưu và truyền bá văn hóa, các giá trị phù hợp sẽ được tiếp nhận - biến đổi, các giá trị không phù hợp sẽ bị đào thải. Nhưng, khi chủ thể tiếp nhận thiếu khả năng phân biệt và lựa chọn, sẽ đưa tới một số chuyển dịch có tính chất đảo lộn. Lịch sử tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng cho thấy, chỉ có thể "cấy văn hóa" khi "mầm văn hóa" được cấy ghép phù hợp với văn hóa chủ thể; ngược lại nếu không phù hợp, quá trình tiếp nhận - biến đổi không thể diễn ra, hoặc có thể vẫn diễn ra, nhưng thường sẽ đưa tới kết quả lạ, nếu không nói là rất quái dị (để hình dung, có thể liên tưởng tới việc người làm vườn không thể ghép một cành ô liu lên một gốc mít!).

Ðiều này làm nhớ tới một trong những sự biến dạng, có thể coi là "phi truyền thống" của bộ tang phục tại nhiều cuộc tang lễ hiện nay. Hẳn là chúng ta đều biết, tang phục truyền thống của người Việt luôn gắn với mầu trắng và mỗi bộ trang phục lại biểu thị cho một ý nghĩa khác nhau, vì thế qua tang phục của người có mặt tại lễ tang có thể nhận biết quan hệ của họ với người quá cố. Nói cách khác, căn cứ vào tang phục, có thể nhận biết ai là vợ (chồng), ai là con trai cả, là con trai, con gái, ai là con dâu, con rể, là cháu đích tôn, chắt, chút... của người quá cố. Trong bức ảnh đám tang Vua Khải Ðịnh năm 1925, gia quyến nhà vua đều mang tang phục mầu trắng, một số "ông tây" hoặc quan chức người Việt mặc com-plê mầu đen đi sau linh cữu. Từ ngày tiếp xúc với văn hóa phương Tây, với người Việt, mầu trắng còn mang tải một dấu hiệu khác, đó là mầu của sự trinh bạch, tinh khôi, thanh khiết, nên trong đám cưới cô dâu thường mặc váy mầu trắng. Còn trong quan niệm của văn hóa phương Tây, mầu đen tượng trưng cho tang tóc, nên tang phục của người châu Âu có mầu đen (có ý kiến cho rằng mầu đen còn "mang ý nghĩa tiêu cực, phi pháp hay tối nghĩa, bí mật, không rõ ràng"). Tuy nhiên gần đây, không rõ nguồn cơn từ đâu mà tại rất nhiều tang lễ ở Việt Nam (đặc biệt là khi tổ chức tại nhà tang lễ ở các đô thị) lại chỉ có một mầu đen, từ bài trí cho đến tang phục? Ai đó có thể phản bác nhận xét của Rô-bớt D.Ca-plen trong bài Giải pháp Việt Nam (The Vietnam Solution trên The Atlantic Magazine số tháng 6-2012) rằng: "Qua bao thăng trầm của lịch sử, văn hóa của nông dân Việt Nam vẫn giữ được nét riêng của nó có phần nhiều hơn là văn hóa của giới tinh hoa Việt Nam", thì vẫn nên chú ý tới nhận xét này khi xem xét các chuyển dịch trong quan niệm về mầu sắc của việc tổ chức tang lễ ở Việt Nam hiện tại. Bởi, dù đôi khi còn rườm rà và nệ cổ, thì hiện nay có lẽ chỉ còn một số gia đình ở đô thị và ở nông thôn là còn duy trì được "Việt tính" khi sử dụng mầu sắc trong tang lễ. Do vậy, từ đây có thể đặt câu hỏi: Phải chăng khi ai đó vô tình (cố tình?) đem mầu đen từ quan niệm tang lễ của phương Tây "cấy" vào tang lễ Việt, họ đã vô tình (cố tình?) làm phai nhạt một quan niệm ít nhiều có tính bản sắc, đã hình thành, tồn tại hàng nghìn năm trong văn hóa tang lễ ở Việt Nam?

Với văn học và nghệ thuật Việt Nam, quá trình giao lưu đã đưa tới nhiều hiện tượng mà ở đó, nếu có giá trị văn hóa sau khi "cấy" đã tìm được sự thích nghi và được sử dụng có hiệu quả, thì lại có giá trị văn hóa dù "cấy" đã lâu và lại được quảng bá rầm rộ nhưng vẫn chưa tìm được chỗ đứng trong đời sống văn học, nghệ thuật. Như với các lý thuyết văn học chẳng hạn. Sự du nhập của Phong cách học, Thi pháp học, Phân tâm học,... đã đưa tới các công cụ mới cho giới nghiên cứu và phê bình, nhưng trên thực tế, những ứng dụng rộng rãi và thật sự có giá trị là chưa nhiều. Làm một thống kê, sau mấy chục năm trời chỉ có thể vỏn vẹn nhắc tới những tác phẩm Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Phan Ngọc), Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Ðình Sử), Bút pháp của ham muốn (Ðỗ Lai Thúy). Thêm nữa, sau một thời gian khá dài, sự quảng bá, khuếch trương và cố gắng tiêu dùng các khái niệm "tân hình thức", "hậu hiện đại" đến nay vẫn chưa đem tới kết quả như một số người hy vọng sẽ "cấy" được các xu hướng văn học này vào văn hóa Việt. Tình trạng đó có thể lý giải từ các góc độ khác nhau, như trong tiểu luận Hậu hiện đại - thực chất và ảo tưởng, một tác giả người Pháp gốc Việt khi luận bàn về việc tiếp cận và ứng dụng một cách hời hợt lý thuyết của J.F. Lai-ô-tát cho rằng: "Một lý thuyết dù với lập luận chặt chẽ, nhưng nếu bị ngộ nhận, suy diễn và sử dụng một cách vội vàng, có thể đưa đến những hậu quả không lường được". Tương tự như thế trong thực tế sáng tác, sau mấy chục năm, dù đã có rất nhiều sự phân tích để khẳng định cách tân trong văn xuôi của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh,... thì vẫn rất khó có thể khẳng định đó là những cách tân có ý nghĩa nghề nghiệp rộng rãi. Vì đến lúc này, dường như những cách tân ấy đã và đang có ý nghĩa trong phạm vi "độc sáng" hơn là các giá trị đủ sức hấp dẫn đồng nghiệp, từ đó "cấy" vào văn học các giá trị có khả năng làm nên một xu hướng, một trào lưu văn chương?

Dù được tiếp xúc rộng rãi với nghệ thuật thế giới, nhưng dường như trong nghệ thuật Việt Nam hiện đại, đã và đang có một số nghệ sĩ sáng tác theo quan niệm hiện đại là phải khác thường, không giống như cái gì đã có, càng thoát ly truyền thống càng tốt,... từ đó cố gắng chế tác ra nhiều "quái tứ, dị ngôn" để chuyển tải các "thông điệp" mà hầu như chỉ có tác giả và nhóm bạn bè "đồng sàng đồng mộng" có thể chia sẻ và tán thưởng. Vì thế, nếu không được báo chí đề cập (tung hô), nếu không có những bài trả lời phỏng vấn đầy tự tin của mấy tác giả này, hẳn là người đọc, người xem, người nghe không biết ở nước Nam, lại có nghệ sĩ "tụt quần đọc sách hàn lâm ở triển lãm" vì "anh có thói quen đọc sách trong toilet từ khá lâu và đến nay vẫn duy trì sở thích này. Anh cũng biết có rất nhiều người thường làm việc này nhưng không muốn cho người khác biết, vì có thể họ quên mất việc làm đó của mình, hoặc cũng có thể họ cho rằng đó là một việc làm không đẹp nên muốn che giấu. Trong khi đó, dưới góc nhìn của anh (một nhà văn và nhà báo) thì đó là một việc làm hết sức bình thường". Ðể rồi, theo một bài báo trên nld.com, sau khi xem tác phẩm này, một nghệ sĩ nói: "Nếu phòng triển lãm là WC và tha hồ phóng uế rồi bắt người xem phải ngửi thì phải cảm nhận gì đây"? Và đọc các đoạn trích sau, nếu ai đó ngạc nhiên và chưa biết nên định danh là văn học gì, xin hãy bình tâm, vì đó là văn và thơ trích ra từ tác phẩm của hai tác giả khá nổi tiếng: "Anh khong thich tat ca cac the loai Tay Annam. Tay thi ra Tay, Annam thi ra Annam. Khong thich nua no nua kia. "Hom nay di shopping, thay mot mat hang danh cho tuoi teen, nhung co hot hay khong thi khong duoc sure lam". Noi mot cau la dem mot cau, nhu noi tuc, nhu chui the"; và "Ðêm đem em vào đen - Ðen đem em vào đêm - Ðêm đem đen vào em - Em đem đêm vào đen"! Và không rõ vì khả năng sáng tạo còn hạn chế, hay nôn nóng sớm nổi tiếng mà hầu như văn hóa chưa (không?) được "cấy" một cách có bài bản, đặc biệt là chưa (không?) tìm thấy một sự tương thích văn hóa? Như V-Pop chẳng hạn, có lẽ khó bác bỏ ý kiến cho rằng: "V-Pop cũng đang vật lộn nhiều thể loại nhạc khác ở Việt Nam, một số ca sĩ tự sáng tác, sao chép nền nhạc rất nhiều, trên nguồn tin tức VTV cho thấy khoảng 80% các bài hát của V-Pop mang tính chất âm hưởng của nước ngoài, đặc biệt là âm hưởng của nhạc Hàn hay K-Pop, Ballad cổ điển từ Trung Quốc, C-Pop, nhạc Thái,..." (Wikipedia - mục từ V-Pop).

Khi căn bệnh hình thức đang trở thành điều đáng lo ngại trong sinh hoạt xã hội, thì nó cũng không e ngại khi lấn vào mảnh đất của văn học - nghệ thuật. Như chuyện có liên quan đến hậu hiện đại chẳng hạn. Nếu tâm thức hậu hiện đại đã thật sự có chỗ đứng chân trong đời sống tinh thần của dân tộc, nếu người viết văn, làm thơ mang trong họ cảm thức hậu hiện đại thì tâm thức, cảm thức ấy sẽ chi phối việc anh ta tìm ra hình thức biểu đạt, sáng tạo ra thủ pháp nghệ thuật của riêng mình, qua đó làm phong phú thêm các thủ pháp sáng tạo của hậu hiện đại. Cũng tức là, không nhất thiết họ phải biết vận dụng thuần thục các thủ pháp của hậu hiện đại. Và tác giả có tài năng hay không cũng từ đó mà ra. Viết đến đây, lại nhớ tới điều PGS, TS Nguyễn Văn Dân viết trong bài Chủ nghĩa hậu hiện đại - tồn tại hay không tồn tại: "Trong khi đó ở nước ta, thói sùng ngoại không phân biệt đã làm cho chủ nghĩa hậu hiện đại được giới thiệu như một sự nhất trí cao không phải bàn cãi trong tất cả các lĩnh vực văn học - nghệ thuật. Và vì không gán nổi được một đặc trưng riêng nào cho chủ nghĩa hậu hiện đại, hầu như tất cả những người ủng hộ hậu hiện đại đều có khuynh hướng gọi các trào lưu hiện đại đầu thế kỷ 20 là hậu hiện đại, từ chủ nghĩa Ðađa đến chủ nghĩa siêu thực, từ Kafka đến kịch phi lý... Nhiều người chỉ nghe người nước ngoài nói thế nào về hậu hiện đại thì nói theo như thế ấy mà không hề có ý thức rõ ràng về nó". Và từ góc nhìn "cấy văn hóa", liệu có thể coi sự du nhập hậu hiện đại vào văn học - nghệ thuật Việt Nam đã và đang được thực hành theo lối "cấy bừa"? Rất tiếc, trong khi hăng hái làm phong phú vườn nhà, một số người đã "cấy" một giống cây lạ, không cần biết có thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng hay không, hoặc không bận tâm phải làm gì để rồi đây, giống cây lạ có thể cắm rễ, đơm hoa kết trái trong vườn nhà? Bất luận trong trường hợp nào thì sự thành công của tác phẩm văn học - nghệ thuật vẫn là kết quả tổng hòa của rất nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ vì đã được sáng tác theo chủ nghĩa hay xu hướng nào. Ở đây, có lẽ nên tham khảo ý kiến của nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn rằng: "Nếu không có trụ cột là tình yêu với cuộc sống thì đi tìm những thể nghiệm cách tân, hiện đại... chỉ là những mỹ từ che đậy cái anh đánh mất. Những thể nghiệm đó không đi đến đâu cả, chừng nào họ chưa tìm được tình yêu cuộc sống".

Có thể bạn quan tâm