Thuê bao điện thoại di động tăng mạnh
Theo Liên minh viễn thông thế giới (ITU), tốc độ phát triển thuê bao điện thoại di động (ĐTDD) trên toàn thế giới trong vòng năm năm trở lại đây đạt bình quân 34%-35%/năm với mật độ trung bình 22-23 máy/100 dân. Tại Việt Nam, hai năm gần đây, tốc độ phát triển thuê bao ĐTDD đã vượt gấp hai lần thế giới, riêng sáu tháng đầu năm nay, đã đạt gần 70%. Mật độ ĐTDD của cả nước hiện là tám máy/100 dân. Theo kế hoạch của các nhà cung cấp dịch vụ thì trong năm 2005, sẽ phát triển thêm bốn triệu thuê bao ĐTDD, tăng gấp hai lần so với năm 2004. Thứ trưởng Bưu chính - Viễn thông Trần Đức Lai khẳng định, nếu hai công ty Viễn thông điện lực (VP Telecom) và cổ phần viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom) tham gia thị trường ngay quý III năm nay thì con số thuê bao ĐTDD phát triển của cả năm 2005 sẽ lớn hơn nhiều.
Ngay sau khi thị trường thông tin di động có sự xuất hiện của Công ty cổ phần Bưu chính - Viễn thông Sài Gòn (SPT) và Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel), thì thuê bao ĐTDD trên cả nước tăng trưởng khá mạnh mẽ. Đơn cử Viettel chỉ sau tám tháng chính thức cung cấp dịch vụ đã có hơn 700 nghìn khách hàng và dự kiến hết năm 2005, Viettel sẽ có 1,8 triệu thuê bao. Nếu cứ đà này thì đến năm 2010 cả nước sẽ có khoảng 25-30 triệu thuê bao ĐTDD, một con số khá ấn tượng.
Nhu cầu sử dụng ĐTDD đang tăng cao là xu hướng có thật. Tuy nhiên, về phía người tiêu dùng thì điều quan tâm hơn cả chính là bùng nổ thuê bao di động có ảnh hưởng chất lượng dịch vụ không? Phó Giám đốc Công ty dịch vụ viễn thông GPC (đơn vị quản lý và khai thác mạng di động VinaPhone) Phạm Quang Hảo cho biết, công nghệ di động luôn thay đổi liên tục, khoảng 18 tháng thay đổi một công nghệ. Thế nhưng quy trình đầu tư của các doanh nghiệp viễn thông thường mất tới 24 tháng, trong nhiều trường hợp khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội cập nhật công nghệ. Mặt khác quy định về khấu hao tài sản ở nước ta hiện là sáu năm rưỡi, trong khi các nước khác chỉ là hai, ba năm. Thời gian khấu hao kéo dài là nguyên nhân hạn chế các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Ông Hảo kiến nghị những cơ chế, chính sách về đầu tư cần quy định cởi mở, thông thoáng hơn nhằm tăng tính tự chủ cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ nhanh chóng. Có như vậy hạ tầng thông tin di động sẽ hiệu quả hơn, bảo đảm chất lượng cung cấp dịch vụ.
Cạnh tranh bằng giá cước?
Giá cước dịch vụ thông tin di động là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển thuê bao ĐTDD. Phó trưởng ban giá cước tiếp thị của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT) Bùi Tiến Dương cho biết, phương án giảm giá cước thông tin di động mà VNPT vừa trình Bộ Bưu chính - Viễn thông đều căn cứ vào chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là tiếp tục giảm mạnh giá cước viễn thông trong năm 2005. Ngoài ra, VNPT cũng tính toán dựa trên tỷ suất lợi nhuận/thuê bao, giá thành dịch vụ, hiệu quả mạng lưới... để đưa ra phương án giảm cước. Hiện VNPT đang duy trì mức cước di động cao hơn các nhà cung cấp dịch vụ khác.
Theo Trưởng phòng Trung tâm điện thoại di động S-Fone Trương Thị Tố Lan, việc điều chỉnh giá cước là xu thế chung của thị trường. S-Fone không có lợi thế như Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT) vì S-Fone phải thuê cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp khác. Chi phí thuê cơ sở hạ tầng chi phối chiến lược giá của S-Fone. Hiện S-Fone đang bán giá dịch vụ dưới giá thành. Chính sách giảm giá cước của VNPT đẩy các doanh nghiệp ngoài VNPT vào hai con đường: mất thị trường hoặc tiếp tục giảm giá để chạy đua với VNPT. Vì thế, Bộ Bưu chính - Viễn thông cần quản lý và điều tiết thị trường viễn thông để các doanh nghiệp cạnh tranh một cách lành mạnh, nhất là quản lý chặt chẽ giá cước dịch vụ của doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế. Bộ cần xây dựng lộ trình giảm cước cụ thể đối với doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế.
Cùng chung quan điểm này, Phó Tổng giám đốc Viettel Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ: Giảm giá cước dịch vụ sẽ tạo điều kiện cho người tiêu dùng tiếp cận dịch vụ. Khi số lượng thuê bao ĐTDD càng cao thì khả năng giảm cước dịch vụ càng lớn. Chẳng hạn, năm 2004, Viettel có 120 nghìn thuê bao thì giá thành dịch vụ là 1.800 đồng/phút, hiện nay khi đạt 700 nghìn thuê bao, giá thành dịch vụ của Viettel chỉ còn 1.500 đồng/phút. Rõ ràng giá thành dịch vụ giảm thì việc giảm cước dịch vụ càng dễ dàng. Nhưng cuộc chạy đua giảm giá cước dịch vụ với doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế sẽ làm các doanh nghiệp khác không còn kinh phí đầu tư đổi mới công nghệ, từ đó chất lượng dịch vụ giảm là điều tất yếu.
Thực tế cho thấy để có thể tăng số lượng thuê bao di động thì các nhà cung cấp dịch vụ phải bảo đảm chất lượng dịch vụ cho khách hàng. Đối với các doanh nghiệp ngoài VNPT, điều này đồng nghĩa với việc kết nối các mạng viễn thông với nhau phải thực hiện dễ dàng. Chẳng hạn, trong 20 cuộc gọi của thuê bao mạng Viettel thì có đến 19 cuộc gọi đi tới mạng VinaPhone và MobiFone. Như vậy nếu Viettel không được đáp ứng đủ yêu cầu kết nối với VNPT thì chắc chắn chất lượng dịch vụ của mạng Viettel bị ảnh hưởng. Ông Hùng nhấn mạnh nhà cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm với khách hàng của mình. Nếu số thuê bao của Viettel tương đương với số thuê bao của VinaPhone và MobiFone thì khó khăn trong kết nối các mạng viễn thông sẽ không diễn ra. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là yếu tố thúc đẩy phát triển thị trường thông tin di động nhưng cạnh tranh phải lành mạnh, bình đẳng thì mới phát huy hiệu quả đối với sự phát triển của thị trường viễn thông nói chung.