Nhưng trong quá trình triển khai, ngành xi-măng lại gặp một số khó khăn, vướng mắc cần sớm được tháo gỡ.
Đặc thù của ngành xi-măng là dây chuyền lớn, đầu tư dài hạn, công nghệ đã định hình qua nhiều năm. Bất kỳ thay đổi nào về quy chuẩn, phương pháp kiểm kê, hay cơ chế trách nhiệm tái chế đều kéo theo chi phí lớn, thời gian chuyển đổi dài và đòi hỏi hướng dẫn rõ ràng để doanh nghiệp lập kế hoạch.
Một số doanh nghiệp xi-măng phản ánh, bối cảnh quy hoạch đô thị thay đổi nhanh, nhiều nhà máy xi-măng khi đầu tư thường đặt tại khu vực thưa dân cư, vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, theo thời gian, một số địa phương điều chỉnh quy hoạch, hình thành các khu dân cư, đô thị phát triển lân cận nhà máy. Khoảng cách không gian bị thu hẹp kéo theo áp lực xã hội đối với phát thải, bụi và tiếng ồn gia tăng, khiến doanh nghiệp phải gồng mình kiểm soát và duy trì các chỉ số môi trường theo yêu cầu mới, trong khi hạ tầng công nghệ vốn thiết kế theo điều kiện ban đầu.
Ở góc độ chính sách giảm phát thải khí nhà kính, một số nội dung được cho là chưa đủ rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn trong áp dụng. Ông Dương Ngọc Trường, Trưởng ban An toàn và môi trường, Tổng công ty Xi-măng Việt Nam (VICEM) nêu thí dụ: Quy định khuyến khích cơ sở tự nguyện nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính chưa sử dụng hết, trong khi Luật Bảo vệ môi trường lại cho phép bán, trao đổi phần hạn ngạch này, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch thực hiện hạn ngạch và chuẩn bị tham gia thị trường carbon.
Một điểm nghẽn khác là thiếu quy định hướng dẫn xác nhận lượng phát thải khí nhà kính giảm được từ các hoạt động đồng xử lý chất thải và tận dụng nhiệt thừa phát điện. Điều đó khiến doanh nghiệp khó chứng minh lượng giảm phát thải để làm căn cứ ghi nhận, cấp tín chỉ carbon.
Trong khi đó, yêu cầu kỹ thuật lại tăng nhanh theo các quy chuẩn mới. Việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp QCVN 19:2024/BTNMT, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đặt ra thách thức lớn với các cơ sở xi-măng đã đầu tư và vận hành ổn định nhiều năm. Hệ thống công nghệ, thiết bị của dây chuyền sản xuất đã định hình, nên để đáp ứng yêu cầu mới, doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn lực tài chính và thời gian chuyển đổi đáng kể. VICEM cho biết, đã chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi phí thường niên, bắt đầu từ năm 2026 nhằm đáp ứng quy chuẩn mới. Với các dây chuyền thiết kế chưa đạt yêu cầu, lộ trình cải tạo đã được triển khai từ năm 2025; doanh nghiệp đã thực hiện cải tạo lọc bụi điện lò nung clinker sang lọc bụi túi cho hai dây chuyền, tổng mức đầu tư khoảng 75 tỷ đồng.
Không chỉ khí thải, quy định về chất thải rắn thông thường cũng bộc lộ những điểm cần hoàn thiện. Doanh nghiệp kiến nghị cần hướng dẫn rõ hơn về xử lý các loại chất thải rắn thông thường có thể tái sử dụng cho mục đích khác, như gạch, đất đá phát sinh từ tháo dỡ công trình có thể dùng san lấp mặt bằng trong khu vực dự án. Hiện nay, cách hiểu và quy định áp dụng khiến doanh nghiệp vẫn phải thuê đơn vị có chức năng xử lý, làm tăng chi phí và phát sinh thủ tục, trong khi mục tiêu kinh tế tuần hoàn đòi hỏi cơ chế khuyến khích tái sử dụng an toàn ngay tại chỗ.
Đáng chú ý, yêu cầu thực hiện trách nhiệm tái chế đối với vỏ bao xi-măng theo cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đang tạo áp lực tài chính và lúng túng trong triển khai. Theo ông Nguyễn Mạnh Tường - Phó Tổng Giám đốc Vicem Bút Sơn, các văn bản liên quan đến EPR chưa đồng bộ, nhất là trong định nghĩa và phân loại nhóm vật liệu, sản phẩm tái chế, xử lý. Điểm vướng cụ thể là cách định nghĩa bao bì giấy hỗn hợp đa lớp chưa thống nhất, kéo theo khó khăn khi xác định đối tượng áp dụng và tính toán nghĩa vụ. Cùng với đó, chưa có hướng dẫn cụ thể về phân loại, tái chế hoặc sử dụng làm nhiên liệu đối với từng loại bao bì; chưa làm rõ định mức chi phí tái chế đối với bao bì có thành phần nhiều vật liệu và cấu trúc hai lớp; chưa quy định đối tượng được miễn giảm phí tái chế.
Ở khía cạnh thủ tục, đại diện VICEM cho biết, cũng cần xem xét quy định thời hạn giấy phép môi trường từ 7-10 năm. Theo phản ánh, hết thời hạn, chủ đầu tư phải lập hồ sơ xin cấp giấy phép mới, không phải hồ sơ gia hạn, kể cả với dự án không thay đổi quy mô, công suất, công nghệ hoặc không có thay đổi cơ bản làm tăng tác động xấu đến môi trường. Điều này làm gia tăng thủ tục, mất thêm thời gian và chi phí xã hội. Cùng với đó, việc yêu cầu mua bảo hiểm trách nhiệm môi trường là định hướng đúng, nhưng chưa có cơ sở xác định mức bảo hiểm cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, doanh nghiệp khó triển khai trên thực tế.
Từ những vướng mắc trên, đại diện VICEM cho biết, cần rà soát, thống nhất các quy định liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính và thị trường carbon để tránh cách hiểu khác nhau, tạo cơ sở cho doanh nghiệp lập kế hoạch hạn ngạch và đầu tư giảm phát thải. Ngoài ra, doanh nghiệp đề xuất ban hành cơ chế, chính sách hướng dẫn xác nhận lượng phát thải khí nhà kính được giảm trừ từ đồng xử lý chất thải và tận dụng nhiệt thừa phát điện, làm căn cứ ghi nhận và cấp tín chỉ carbon, qua đó tạo động lực đổi mới công nghệ.
Ở phương diện thúc đẩy sản xuất xanh, doanh nghiệp kiến nghị sớm có chính sách cụ thể khuyến khích, hỗ trợ hoạt động đồng xử lý chất thải; đồng thời hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với chất thải công nghiệp và cơ chế ưu đãi phù hợp để khuyến khích các cơ sở vật liệu xây dựng ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn. Một vấn đề khác là sớm ban hành chính sách hỗ trợ cụ thể cho các dự án đầu tư môi trường trong sản xuất xi-măng, bao gồm tài chính xanh, tín dụng xanh và ưu đãi vay vốn đầu tư công nghệ môi trường, giúp doanh nghiệp có nguồn lực thực hiện chuyển đổi.
Riêng với EPR vỏ bao xi-măng, doanh nghiệp đề nghị rà soát, thống nhất hệ thống văn bản liên quan để bảo đảm đồng bộ giữa nghị định và thông tư hướng dẫn; bổ sung quy định đối tượng được miễn giảm phí tái chế; ban hành hướng dẫn cụ thể về phân loại, tái chế hoặc sử dụng làm nhiên liệu đối với từng loại bao bì; đồng thời làm rõ định mức chi phí tái chế đối với bao bì nhiều vật liệu, nhiều lớp để bảo đảm khả thi và minh bạch nghĩa vụ.