Tại phiên họp thứ 38 của Ủy ban Thường vụ QH, chiều 29-3, Bộ trưởng Lao động-Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hằng, thay mặt Chính phủ đã trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật lao động, cụ thể là sửa đổi, bổ sung Chương XIV của bộ luật quy định: giải quyết tranh chấp lao động. Chương này có 23 điều, từ Điều 157 đến Điều 179, được chia thành ba phần. Theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Chương XIV được kết cấu thành bốn mục với 43 điều, trong đó giữ lại ba điều, sửa đổi 20 điều và bổ sung 20 điều mới.
Tờ trình, ngoài việc nêu lên sự cần thiết và nội dung của việc sửa đổi, bổ sung này, còn nêu ba vấn đề có ý kiến khác nhau. Đó là quy định về Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, về thẩm quyền lãnh đạo đình công của tổ chức công đoàn, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp cuộc đình công bị Toà án tuyên là bất hợp pháp.
Theo báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban về các vấn đề xã hội của QH và ý kiến phát biểu của các Ủy viên Ủy ban Thường vụ QH; Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa và Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Cù Thị Hậu thì còn nhiều vấn đề cần được xem xét kỹ.
Tờ trình của Chính phủ cho biết, từ năm 1995 đến hết tháng 1-2006, cả nước đã xảy ra 1.056 cuộc đình công. Các cuộc đình công diễn ra đều không tuân theo quy định hiện hành của Pháp luật lao động, xảy ra tự phát, không báo trước, không do Ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi xướng và lãnh đạo, chưa thực hiện đúng thủ tục đình công, việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể chưa thực hiện đúng trình tự theo quy định của pháp luật (không qua Hội đồng hoà giải cơ sở, hoà giải viên lao động, hội đồng trọng tài tỉnh), chưa có cuộc tranh chấp lao động tập thể hoặc cuộc đình công nào đưa ra toà án giải quyết. Phần lớn các cuộc đình công xuất phát từ sự vi phạm pháp luật lao động, vi phạm các cam kết từ phía người sử dụng lao động. Sau khi đình công xảy ra, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, tổ chức công đoàn và chính quyền địa phương phối hợp giải quyết theo thủ tục hành chính.
Đồng thời, tờ trình của Chính phủ và một số ý kiến cho rằng, một số quy định trong pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công còn chưa phù hợp với thực tiễn như: chưa quy định rõ tranh chấp lao động về quyền và về lợi ích, chưa giải thích rõ thuật ngữ đình công, chưa có cơ chế thích hợp, hiệu quả cho việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền và về lợi ích, trình tự thủ tục đình công còn phức tạp, khó thực hiện... Vì vậy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định tại Chương XIV của Bộ luật lao động về giải quyết các tranh chấp lao động.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, tờ trình của Chính phủ nhận xét “Một số quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công còn chưa phù hợp thực tiễn” mà chưa đưa ra được các lý giải thật sự có cơ sở thuyết phục. Các ý kiến này cho rằng, các cuộc đình công xảy ra không đúng trình tự, thủ tục và có xu hướng gia tăng trước hết là do các nguyên nhân như: việc thực thi pháp luật không nghiêm; công tác kiểm tra, thanh tra lao động yếu và chưa thường xuyên; phần lớn người lao động xuất thân từ nông thôn, chưa có nếp làm việc, tác phong công nghiệp, ít hiểu biết luật pháp, thiếu ý thức thực thi pháp luật, ngại kiện tụng và va chạm với các cơ quan pháp luật.
Thực tế cho thấy các vụ tranh chấp lao động dẫn đến đình công xảy ra trong thời gian qua không qua các thủ tục hoà giải, trọng tài cũng như khởi kiện ra toà án. Vì vậy cũng chưa đủ cơ sở để khẳng định các quy định về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động hiện hành là phức tạp, rườm rà.
Riêng việc thực hiện Chương XIV của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động trong thời gian qua chưa được tổng kết đánh giá một cách kỹ càng. Đặc biệt là đối với vấn đề đình công, đây là một vấn đề khá nhạy cảm, ảnh hưởng nhiều tới kinh tế, chính trị, nếu không chuẩn bị, nghiên cứu kỹ sẽ khó giải quyết được mối quan hệ giữa việc bảo đảm quyền lợi cho người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước; như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động, về kinh tế, an ninh trật tự và an toàn xã hội, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, để sửa đổi Bộ luật lao động, trước hết cần rà soát, đánh giá kỹ hơn về tình hình giải quyết tranh chấp lao động và đình công trong thời gian qua để có đầy đủ cơ sở nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật lao động. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cần phối hợp với các cơ quan có liên quan tổng kết, đánh giá hoạt động của công đoàn cơ sở và việc thực hiện Điều 153 về thành lập công đoàn trong các doanh nghiệp.
Ngoài Chương XIV của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động và đình công, còn nhiều quy định tại các chương, điều khác của Bộ luật lao động cũng có mối liên hệ đến chương này như: Chương I về quyền và nghĩa vụ của người lao động, Chương XII về quyền và trách nhiệm của Công đoàn, Chương XV về quản lý nhà nước, Chương XVI về thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật lao động... Do vậy, cần phải nghiên cứu, rà soát để sửa đổi, bổ sung tất cả những quy định khác có liên quan đến tranh chấp lao động và đình công ở các chương khác trong Bộ luật lao động chứ không thể chỉ sửa trong phạm vi chương XIV.
Mặc dù, nhiều ý kiến cho rằng chương XIV của Bộ luật lao động và phần III của Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động hiện hành đang là những chế định không thực tiễn, không khả thi, trình tự, thủ tục phức tạp, song dự thảo luật vẫn không khắc phục được những tồn tại đó. Dự án Luật chưa có những thay đổi căn bản, chưa giải quyết được vấn đề đặt ra của thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động và đình công nên vẫn thiếu tính khả thi.
Việc coi đình công chỉ để giải quyết tranh chấp về lợi ích có thể đúng về mặt lý luận, tuy nhiên về thực tiễn Việt Nam hiện nay hầu hết các cuộc đình công lại đang nhằm giải quyết các tranh chấp về quyền, hơn nữa không ít cuộc đình công là do tranh chấp cả về quyền và lợi ích. Dự án Luật đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp lao động về quyền thông qua việc hoà giải và khởi kiện ra toà án, trong khi cơ chế này từ trước tới nay cũng đã được quy định nhưng chưa được thực hiện. Vì vậy, nếu chỉ sửa đổi một số nội dung mang tính trình tự, thủ tục thì tính khả thi vẫn không thể cải thiện được.
Nhiều ý kiến cho rằng, Ban soạn thảo luật cần đánh giá kỹ hơn về thực tế tranh chấp lao động, giải quyết tranh chấp lao động và đình công hiện nay ở Việt Nam cũng như các quy định của Bộ luật lao động và pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động hiện hành để nghiên cứu sửa đổi các quy định của luật phù hợp với thực tế Việt Nam, để dự án luật thật sự có thể thực thi.
Nhiều ý kiến cũng nhấn mạnh, trong những năm qua việc thực hiện những quy định của pháp luật về lĩnh vực này chưa tốt. Vì thế, việc sửa đổi, bổ sung luật sẽ kém tác dụng. Do đó, phải tiếp tục chỉ đạo thực hiện các quy định đã có cho tốt.
Các ý kiến phát biểu cũng đề cập nhiều vấn đề cụ thể của dự án luật, chẳng hạn thẩm quyền lãnh đạo và tổ chức đình công thực tế tất cả các cuộc đình công cho đến thời điểm hiện nay đều không do Ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi xướng và lãnh đạo. Có việc đó là do nhiều doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở hoặc nơi có ban chấp hành công đoàn cơ sở lại chưa được người lao động tin cậy nên các cuộc đình công đều tự phát, không tuân theo trình tự, thủ tục, theo luật định.
Phần lớn ý kiến cho rằng việc tổ chức và lãnh đạo đình công nên giao cho công đoàn cơ sở phối hợp với công đoàn cấp trên cơ sở là hợp lý. Vấn đề khó là hiện nay còn rất nhiều doanh nghiệp không thành lập tổ chức công đoàn hoặc nếu có thì vai trò của công đoàn quá yếu. Vì vậy vấn đề là phải có giải pháp hữu hiệu để thành lập được công đoàn cơ sở và hoạt động có hiệu quả nhằm bảo đảm được vai trò đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.