Là do bao ước mong, dự định chưa thành, là bởi tuổi trời cho con người yêu cuộc sống, chăm lao động chẳng nhiều nhặn gì. Lúc này đây heo may đã lại về rấm rứt trên nhành cây, bưng lấy khắp mọi lối ra vào ngõ xóm thì người làng tôi cũng tới ngày hối hả lên mùa. Những chiếc xe thồ trĩu trịt cõng những vỗng lúa vàng ươm từ đồng về làng, mặt người se sắt, màu heo may đượm trên nét mặt.
Năm nay lúa được mùa. Một sào Bắc Bộ ước tính đạt khoảng hai tạ ba, hai tạ tư. Vụ tháng Mười lúa đạt sản lượng đó là quá tốt rồi, ấy vậy mà nét vui mừng được mùa nạm gương mặt người làng quê vẻ bình dị, điềm nhiên lạ.
Nhớ lại những năm 70, 80 của thế kỷ trước, mỗi khi làng được mùa thì niềm vui cứ hí hửng, phởn phơ tràn trề trên từng nét mặt trẻ già trai gái. Ðôi chục năm đã qua. Cái khoảng thời gian kể cũng không ngắn. Nó dài bằng tuổi một thế hệ cơ mà.
Quả với người làng bây giờ, cũng vẫn là cái anh nhà nông cấy lúa trồng khoai đó thôi, nhưng cái cách gọi niềm vui, đón nhận niềm vui ngẫm thấy nhiều thay đổi. Bây giờ, ngoài nguồn thu lợi từ đồng đất, vườn, ao, chuồng với mỗi gia đình quê đã có thêm những hướng chờ mong khác, ấy là chờ đồng tiền rót về từ các phương trời xa xôi do trai gái làng đi làm "cửu vạn", làm "ô-sin", làm nhiều nhiều thứ công việc chỉ thời buổi công nghiệp hóa, toàn cầu hóa mới tạo ra được.
Thì cứ xem cái cách chào đón niềm vui được mùa của người nhà quê ngày hôm nay đây ngõ hầu hiểu sâu sắc hơn cõi lòng, thấy rõ hơn nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của họ. Thể hiện niềm vui điềm tĩnh, tự tại là cung cách của người từng trải. Vui ào ào, rực rỡ là niềm vui của tuổi trẻ, tuổi thơ ngây. Ðộng hay tĩnh, cái thứ tiếng tình hỉ, nộ, ái, ố trong lòng người, lẽ thường là vậy. Làng nay đã vào tuổi trưởng thành!
Trong cuộc nhân sinh đời mình trải ngót nghét 50 năm - mới chớm vào ngưỡng tri thiên mệnh chưa là bao nhưng qua những đận gieo neo thời cuộc như nạn giặc giã, nạn đói mòn đói mỏi, tôi đang được nghiệm chứng về một quãng chuyển "nhân mệnh" mới mẻ. Ðây là một nhận thức bất ngờ giàu thi vị trong buổi sáng tháng Mười tôi gặt hái được, thấm tháp được trên những gương mặt, ánh mắt người làng một quãng ngày mùa.
Một năm lại sắp qua rồi! Khi thấy thời gian ào ào càn lướt, không cho cây lá kịp vàng hết sắc. Ào cái, đã rụng khô rụng nỏ trát mặt vườn. Rồi lại có lúc thời gian chạy quanh chạy co, chục năm qua, có khi còn dài hơn thế mà thấy như chẳng gì khác, gì mới. Vẫn trưng ra y chang một bản diện thời gian cũ kỹ. Vậy mới bội phần vui mừng trước độ thu này người làng đã cho tôi nhận diện về một gương thời gian rất khác.
Nói trúng hơn, là cái khác do tình cảm, tâm lý qua cảnh sống con người ngày tháng mới tạo nên. Âu cũng là một quy luật phát triển tất yếu, tự nhiên. Song để điều tất yếu đời sống, quy luật tự nhiên về thời gian mùa vụ được là một tự nhiên trong ghi nhận con người, nào đâu phải chuyện dễ dàng. Vì chưng cuộc sống - xã hội - con người ở đâu, bao giờ cũng còn trải thêm sự chi phối, điều hành bởi một quy cách khác, gọi là Cách thức thế gian! Một thứ cách thức - quy luật, có nhẽ, đôi lúc nó còn nghiêm khắc hơn cả quy luật của tự nhiên nữa kia.
Khi bông lúa được gặt về, khi bông hoa cải, hoa cúc nở vàng mê vàng mải khắp ven giậu mé làng, ngờ rằng đó chính là thứ áp lực khiến loại lá cây lưu niên trong vườn tơi tả. Ở làng thứ lá phải trả giá cho tiết Thu - Ðông đầu tiên là lá xoan, lá bàng, lá phượng...
Tháng Mười trong cách nhìn thời gian của người xưa là tháng Càn - vi thiên, tháng mang tượng trời, tiếp ngay sau đấy là tháng mang tượng đất, tháng Mười Một - Ðịa lôi phục. Quy luật thời gian trong cách nhìn này cũng tinh vi, lý thú. Phục - Phản phục, nghĩa là trở lại. Một chu kỳ thời gian cho một năm mới lại được bắt đầu vận hành từ đó. Một năm lại sắp qua rồi! Niềm ta thán chỉ đến với lòng người khi hàng cây mầu lá chợt vàng lên rờ rỡ, khi cái heo may se sẽ nhằm nhặm tìm đường ăn sâu vào da thịt.
Bao giờ cái heo may từ phương Ðông Bắc chuyển nghịch chiều kim đồng hồ sang phương Bắc làm nên loài gió Bấc, ấy là lúc năm tàn. Người làng lại nhìn vườn cây, thửa ruộng xem chồi non lộc biếc sắp lên nhành, tính kỳ lúa làm đòng, những ông chồng lại được phen nhắc các bà vợ, nhời rằng: "Mẹ nó ạ, lũ con kiếm sống phương xa, chúng sắp tha mùa xuân về tổ ấm rồi đấy!" Ấy là Tết đến! Nói như xưa, làng lại sắp sửa soạn thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ...
Làng - cái tổ ấm, nơi đậu lại, nơi cư trú của người Việt xây cất tự ngàn xưa. Danh từ thiêng liêng: Tổ quốc, cũng là từ lẽ chữ đó mà xưng vang động lên với bốn cõi. Nghe khác nào cách gọi âu yếm tổ chim, tổ chấy và lớn lao sâu đậm hơn là nguồn cội tổ tiên. Cá có đàn, chim có tổ! Chẳng hay trên thế gian có tộc người nào cứ ưa cách đặt tên gọi cho làng mạc, phố phường, cho tên người như ở ta không. Nào là xứ Ðông xứ Ðoài, làng Bến làng Bãi làng Sành làng Sứ làng Soài làng Dừa làng Gạo làng Lúa làng Hoa...; rồi Hàng Bông, Hàng Ðào, Hàng Khoai, Hàng Lược, Hàng Ngang, Hàng Ðẫy...; và tên người thì cứ những Nghêu, Sò, Ốc, Hến, Trắm, Chép, Trôi, Mè, Xoan, Hồng, Mơ, Mận, Cam, Bòng, v.v.
Hẳn khó đâu hơn được lối cư xử, cách ứng dụng giao thoa gần gặn, rịt ràng bó bện, một tấc không đi một ly không rời giữa tình người với tình đất đai thôn ổ, với nắng mưa sương gió mùa màng như người làng Việt. Và cũng bởi thế, không nơi đâu vết thời gian đi qua lại gây dư chấn về cái đói no, lẽ sinh tồn trong khắc khoải nghĩa trời cao đất dày như trong cảm thức thời gian ở những ngôi làng Việt.
Dường như heo may, lá vàng, rồi sương muối gió bấc, như mỗi từng chân ruộng góc vườn, bóng chim tăm cá chốn ao chuôm, sông ngòi kênh rạch chúng đều đang se sắt, so le trong cái lạnh tỏa ra từ khí hậu ẩn tàng tận những ngàn năm trong khoảng không, trong dạ đất làng và cái khí hậu ấy, mầu sắc mùa màng ấy đoạn ngày này, trên lối ngõ này chúng lại một phen rấm rứt ùa về đòi tìm gặp kỳ được tình cảm con người để thưa, chỉ mỗi nhời rằng: Một năm lại sắp qua rồi!