Theo báo cáo của Ban chủ nhiệm Chương trình, các sản phẩm dạng này đều được triển khai ứng dụng ngay vào thực tiễn sản xuất thông qua việc xây dựng mô hình trình diễn, mô hình thử nghiệm. Trong đó, có những kết quả đã trở thành sản phẩm mang tính hàng hóa, được áp dụng rộng rãi như công nghệ nuôi ốc hương giống và ốc hương thương phẩm; công nghệ và hệ thống thiết bị chế biến hạt giống lúa, ngô; công nghệ trồng nấm quy mô làng nghề; công nghệ vi nhân giống sản xuất hoa salem và đồng tiền kép chất lượng cao; các thiết bị chế biến thức ăn viên thô cho bò; các tổ thiết bị thủy điện vừa và nhỏ...
Ðặc biệt các sản phẩm này đều cho chất lượng tương đương khu vực (Trung Quốc, Thái-lan) trong khi giá thành nhiều sản phẩm chỉ bằng 60-70% giá nhập ngoại. Ðiều quan trọng là các công nghệ và thiết bị đều bảo đảm được tính thích ứng với điều kiện sản xuất về quy mô, trình độ và khả năng về vốn của người dân nông thôn.
Một số kết quả nổi bật phục vụ cơ giới hóa canh tác cây trồng phải kể tới hệ thống máy canh tác cho một số cây trồng cạn (mía, dừa) là sản phẩm của đề tài KC.07.11, gồm 15 mẫu máy: làm đất, chăm sóc... đã và đang ứng dụng tại Nông trường Thống Nhất (Thanh Hóa) mang lại hiệu quả tổng hợp là nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, bảo đảm hiệu quả kinh tế của cả người sản xuất nông nghiệp và người đầu tư máy móc.
Một sản phẩm có tính kết hợp chặt chẽ từ hai đề tài KC.07.19 và KC.07.25 đã xây dựng được quy trình công nghệ và hệ thống thiết bị phụ trợ đồng bộ để sản xuất mạ thảm quy mô công nghiệp mang tính hàng hóa và thiết kế chế tạo thành công mẫu máy cấy sáu hàng phù hợp điều kiện Việt Nam. Công nghệ mạ thảm được ứng dụng tại Bắc Ninh và Nghệ An đã tiết kiệm được 20 - 30% giống, nhưng năng suất lúa tăng 15-20%, chủ động hoàn toàn theo đúng vụ, tỷ lệ nảy mầm hơn 95%. Mẫu máy cấy mạ thảm sáu hàng cho năng suất đạt 2.000-2.400m2/giờ, tương đương 1,5 - 2 ha/ngày, năng suất lao động gấp 25-30 lần cấy tay. Chi phí đầu tư chỉ bằng 40 - 50% chi phí cấy thủ công.
Cũng từ chương trình này, đã tạo ra được quy trình công nghệ sản xuất một số loại rau an toàn dựa trên công nghệ trồng cây không đất, bảo đảm được các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm và năng suất cao gấp 5 - 10 lần so với trồng ngoài đồng. Máy thu hoạch lúa tự hành là sản phẩm của đề tài KC.07.15 đã được chọn để xây dựng thành dự án SXT-NT giai đoạn 2006-2008 để sản xuất hàng loạt, đáp ứng nhu cầu cơ giới hóa thu hoạch tại đồng bằng sông Cửu Long. Giá thành dự kiến chỉ bằng 60% giá nhập máy cùng loại từ Trung Quốc.
Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đã tạo ra công nghệ và hệ thống thiết bị nuôi tôm giống và thương phẩm kiểu công nghiệp quy mô trang trại (sản phẩm của đề tài KC.07.01) và công nghệ sản xuất giống ốc hương và nuôi ốc hương thương phẩm (sản phẩm thuộc dự án sản xuất thử nghiệm KC.07.DA.01).
Ngoài ra, trong các lĩnh vực chế biến nông - lâm thủy sản, cơ giới hóa chăn nuôi, phát triển ngành nghề nông thôn, cũng đã tạo ra một số công nghệ và thiết bị thể hiện được tính ưu việt và hiệu quả kinh tế - xã hội như nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái. Ðặc biệt các kết quả của nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ chế chính sách đã đóng góp cho các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác chỉ đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng quy hoạch, hoạch định chính sách nhằm thúc đẩy nhanh CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn.