Các lĩnh vực chính trong hợp tác KH-CN Việt Nam - Đức

Công nghệ sinh học: Các công trình nghiên cứu ứng dụng nhằm nhân giống thực vật, động vật và vi sinh vật. Việt Nam là một địa bàn được xếp vào loại đa dạng sinh học và có nguồn hoạt chất sinh học rất dồi dào của thế giới.

Việc hợp tác nghiên cứu đã phân lập một số hoạt chất từ nấm, thực vật và tảo xanh của Việt Nam và đã đăng ký bản quyền ("Bioprospecting"). Các hoạt chất này có thể sẽ được ứng dụng nâng cao sức chống chịu mặn, rét và hạn của lúa và sản xuất thuốc trừ sâu. Mặt khác nó tạo điều kiện để nghiên cứu phát triển bảo tồn quỹ gene.

Hợp tác nghiên cứu về cây lúa giữa các tổ chức nghiên cứu cơ bản và đơn vị sản xuất của Việt Nam với Đức đã thành công trong việc nâng cao hàm lượng axit min của lá lúa lên 12 lần, tăng khả năng kháng nấm của lúa và chịu rét của ngô qua biến đổi gene. Hiện nay hai bên đang nghiên cứu về sự tăng lên của axit a-min trong hạt lúa;

Dự án xây dựng phòng thí nghiệm tin sinh học thực hiện tại Đại học Khoa học tự nhiên TP. Hồ Chí Minh đã cho phép tiến hành mô hình hóa protein, sử dụng các cơ sở dữ liệu tích hợp về chuỗi mạch cấu trúc và chức năng protein;

Xác định chuỗi gene tương ứng của lợn và lập chuỗi so sánh các giống lợn của Đức, châu Âu và Việt Nam cho thấy hiện tượng đa hình thái các gene, góp phần tạo cho các loài vật có sức đề kháng cao, cải thiện sức khỏe và khả năng sinh sản của các giống lợn thuần chủng cao của Đức.

Những kết quả bước đầu của các dự án như phân tích gene đối với gà và giống chim nuôi kinh tế, các loại virus và vi sinh vật gây bệnh đối với cây lương thực và rau quả, các hoạt chất dược phẩm từ cây dược liệu, ... có triển vọng đóng góp giải quyết những vấn đề khó khăn trong sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm hiện nay của nước ta.

Song song với các dự án, việc đào tạo chuyên gia khoa học và công nghệ cho tương lai cũng được hai bên hết sức quan tâm. Đặc biệt là gần đây hai bên đã đẩy mạnh việc hỗ trợ 15 nhà khoa học trẻ, xuất sắc của Việt Nam sang nghiên cứu và hoàn thành luận án phó tiến sĩ trên lĩnh vực công nghệ sinh học tại Đức. Đó là chưa kể đến hàng chục nghiên cứu sinh trên lĩnh vực này do học bổng của Chính phủ Việt Nam cấp. Những nhà khoa học này sẽ bổ sung cho các cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam và cũng là các đầu mối quan trọng cho các cơ quan nghiên cứu và phát triển công nghệ mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực công nghệ sinh học.

Công nghệ môi trường, công nghệ nước và nước thải:

Đây là lĩnh vực có quy mô hợp tác song phương lớn nhất xét về mặt số lượng các dự án cũng như kinh phí mà Bộ Liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu Đức tài trợ cũng như yêu cầu cấp vốn đối ứng của các dự án đối với Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tổng cộng sẽ có gần 70 dự án thuộc lĩnh vực này. Một số dự án đã được triển khai từ 1996 nhưng có một số sẽ được triển khai trong các năm tới.

Các dự án nghiên cứu giúp tìm ra giải pháp cho vấn đề nước và môi trường ở các địa bàn khác nhau, với những công nghệ khác nhau, chẳng hạn: dự án Nghiên cứu và áp dụng công nghệ xử lý và đưa các chất thải phi tập trung (từ các hộ gia đình) sử dụng trong nông nghiệp ở Cần Thơ;

Xây hệ thống thông tin để quản lý và sử dụng nước ở đồng bằng sông Cửu Long (theo dõi dự báo và đánh giá thiệt hại của lũ lụt và hạn hán, thông tin về sử dụng đất và phát triển đô thị, chất lượng nước, tính toán nước ngầm...);

Phương án quản lý tổng hợp nguồn tài nguyên nước tại các tỉnh Nam Định, Lâm Đồng và Cần Thơ;

Xây dựng các khu vực sinh thái cho vùng mỏ Quảng Ninh trên các vùng đã khai thác và bãi thải;

Nghiên cứu khả thi nạo vét hồ Hoàn Kiếm trên cơ sở phân lô và bảo đảm ít phương hại đến động thực vật trong hồ;

Quy hoạch phát triển bền vững TP Hồ Chí Minh (một trong sáu thành phố của thế giới được nhận dự án này);

Một chương trình học bổng dành riêng để đào tạo các chuyên gia sau đại học (IPSWAT) gắn liền với các dự án đã và sẽ tạo điều kiện cho việc đào tạo mang tính đồng bộ cho Việt Nam để phục vụ sau này cho dự án phát triển.

Nghiên cứu về vật liệu:

Trong khuôn khổ các nghị định thư hợp tác, từ năm 1998, hai bên đã lựa chọn ra một số dự án và triển khai thực hiện với mục đích phát triển các loại vật liệu mới và hiện đại hóa các phương pháp sản xuất, gia công thông thường cũng như cải tiến các sản phẩm.

Một trong những dự án đầu tiên từ lĩnh vực kỹ thuật hàn đã được các nhà khoa học của trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Tổng hợp Dresden tiến hành là khảo sát chất lượng các mối hàn. Xuất phát từ nhiệm vụ hợp tác này, hai bên đã đi đến thành lập Viện đào tạo và Nghiên cứu Đức tại Hà Nội;

Công nghệ nitro hoá trong plasma để tôi bề mặt kim loại đã áp dụng thành công, với giá thành hạ và công nghệ thân thiện với môi trường tại Cần Thơ với sự hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học và doanh nghiệp của hai bên;

Viện Nghiên cứu Polyme Dresden và Viện Hóa học thuộc Viện Khoa học Việt Nam đã thành công trong việc chế tạo các vật liệu polyme mới gọi là cao su nhiệt dẻo với công nghệ đơn giản, giá thành hạ, rất tiện lợi cho việc tái chế các sản phẩm nhựa tổng hợp;

Viện ứng dụng Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã cùng với các đối tác của Đức nghiên cứu và chế tạo thành công các lớp phủ quang học có tính năng ưu việt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, dùng cho các thiết bị quang học có giá trị cao.

Có thể bạn quan tâm