Các giải pháp chống ô nhiễm nước hồ ở Hà Nội

Hồ Thiền Quang
vừa được nạo vét.
Hồ Thiền Quang vừa được nạo vét.

* Xin Giáo sư đánh giá về thực trạng ô nhiễm của các hồ hiện nay ở Hà Nội?

GS.TS Vũ Hoan: Hệ thống hồ ở Hà Nội khá đa dạng, phong phú, mang nhiều giá trị, chức năng khác nhau. Một số hồ mang ý nghĩa lịch sử văn hoá, có giá trị cảnh quan thiên nhiên môi trường, đa dạng sinh học cũng như các giá trị về nguồn nước, thủy sản nước ngọt như: hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch... Cũng có những hồ nằm trong khu dân cư đông đúc mang chức năng điều hòa nước như hồ Giảng Võ, hồ Thành Công, hồ Ngọc Khánh...

Hầu hết các hồ đều bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau, chủ yếu là do Coliform, hàm lượng hữu cơ có từ nguồn rác thải, nước thải sinh hoạt, các chất thải từ sản xuất, dịch vụ... đổ vào hồ.

Chúng phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên và quần xã sinh vật. Trong khi đó, hoạt động của sinh vật đóng vai trò quyết định quá trình làm trong sạch nước hồ.

Nước thải và rác thải cũng làm chuyển đổi trạng thái nước từ ít chất dinh dưỡng sang quá nhiều chất dinh dưỡng. Sự dôi dư Nitrat và nhất là phốt phát gây ra việc tăng sinh hỗn loạn của thực vật nổi và các loại tảo.

Đặc biệt là đối với những hồ vừa mới nạo vét, được đầm nén chặt cùng với việc xây kè bờ hồ trong thời kỳ đầu làm cho nước hồ không còn ở trạng thái tự nhiên, độ pH rất cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loài tảo độc phát triển rất mạnh. Sau khi chết, các loài tảo tích tụ dưới đáy hồ ngày càng dày đặc thêm. Quá trình phân hủy xác tảo lại tiêu thụ lớn lượng ôxy hòa tan trong nước làm mất dần các loài thủy sinh khác.

* Thành phố Hà Nội đã thực hiện một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nước hồ, nhưng tại sao vẫn chưa thực sự hiệu quả, thưa Giáo sư?

GS.TS Vũ Hoan: Phần lớn các biện pháp này đều tập trung vào việc: cải tạo hệ thống thoát nước, tách riêng hệ thống nước thải và nước mưa, kè lại hồ, làm đường dạo ven hồ, nạo vét một số hồ... Trên thực tế việc này đã giúp cho cảnh quan hồ được khang trang hơn, nhưng chất lượng nước hồ thì lại chưa cải thiện được mấy.

Biện pháp nạo vét hồ gần đây lại áp dụng theo kiểu "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Nghĩa là nạo hết bùn hoạt tính, đào sâu, lu lèn chặt đáy hồ, kè kín bưng hồ bằng bê tông, đá. Có người còn miêu tả việc này giống như biến hồ thành "cái chậu thau đựng nước". Sau khi nạo vét xong, hồ chỉ còn nước thải hòa lẫn nước mưa. Còn bùn hoạt tính và hệ thống sinh vật: động vật, thực vật thủy sinh, vi sinh vật thì không còn nữa. Khi hồ mất đi khả năng tự làm sạch, pH lại tăng cao, độ phì dưỡng nặng... là điều kiện thuận lợi cho thực vật phù du và tảo độc sinh sôi, phát triển.

Nghiên cứu ở hồ Thành Công, hồ Giảng Võ, hồ Thiền Quang đã xác định được 30 loài tảo tập trung chủ yếu vào ba ngành: tảo lục (Cholorophyta), tảo silic (Bacillariophyta) và tảo lam (Cyanophyta), trong đó tảo lam (là loại tảo độc) chiếm tuyệt đối (93,8% - 96%). Hơn nữa, hiện tượng "nở hoa" của tảo, rồi xác chết của tảo còn làm cho nước hồ ô nhiễm và nặng mùi.

* Vậy đã có giải pháp hữu hiệu nào được đề xuất?

GS.TS Vũ Hoan: Các nhà khoa học đã đề xuất nhiều cách thức xử lý nước hồ thông qua phương pháp cơ học, hóa lý học, sinh học...

Trong đó, phương pháp sinh học bao gồm: sử dụng hệ vi sinh vật và sử dụng hệ động thực vật đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong xử lý môi trường nước, đặc biệt là nước ô nhiễm chất hữu cơ. Tiêu biểu là việc sử dụng hệ sinh vật để phân hủy hoặc hấp thụ các chất ô nhiễm hữu cơ, vô cơ trong môi trường sống.

Phương pháp sử dụng hệ vi sinh vật đã lựa chọn một số chủng vi sinh vật không gây hại cho người và sinh vật khác, có đầy đủ khả năng phân hủy được chất ô nhiễm, giảm được mùi xú uế, làm trong sạch được nước hồ...

Chúng được sử dụng để phân hủy các chất ô nhiễm hữu ca và vô cơ dư thừa gây độc hại trong môi trường nước.

Có nhiều loại chế phẩm vi sinh vật được sử dụng trên thế giới và trong nước, đơn cử như công nghệ vi sinh vật hữu hiệu Effective Microorganisms (viết tắt là EM) đang được sử dụng với giá rẻ và có hiệu quả cao. Với EM, mùi hôi thối được giảm đi rõ rệt, bảo đảm nước hồ đạt được chỉ tiêu cho phép theo tiêu chuẩn môi trường, đồng thời cải thiện điều kiện nuôi trồng thủy sản cho hồ.

Bên cạnh đó, còn phương pháp sử dụng hệ động thực vật tham gia loại bỏ các chất hữu cơ, các chất lơ lửng, nitơ, phốtpho, các kim loại nặng, các tác nhân gây bệnh trong hệ sinh thái thông qua chuỗi thức ăn. Có thể sử dụng thực vật thủy sinh: bèo tây, bèo cái, rau muống, cải xoong... vào việc làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước...

* Theo Giáo sư, trong số những giải pháp này thì đâu là cách thức tối ưu?

GS.TS Vũ Hoan: Không thể chỉ đơn thuần áp dụng một phương pháp mà phải là hài hòa giữa quy chế quản lý với biện pháp công nghệ.

Trước hết cần tách riêng hệ thống nước thải và chỉ để nước mưa chảy vào hồ, có hệ thống quan trắc chất lượng nước hồ...

Sau đó, tùy theo diện tích mặt nước và độ ô nhiễm của nước hồ mà áp dụng công nghệ vi sinh vật hoặc công nghệ thực vật thủy sinh. Hai công nghệ đó còn khá mới mẻ ở nước ta, nên bước đầu cần lựa chọn hai hồ để làm thí điểm.

Theo tôi, muốn đạt hiệu quả cao thì những biện pháp bảo vệ môi trường và chống ô nhiễm nguồn nước này phải tuân thủ đúng các quy luật vốn có của thiên nhiên.

- Xin cảm ơn Giáo sư!

GS Hà Đình Đức: "Nước hồ Gươm có ô nhiễm, nhưng chưa đến mức đáng lo ngại"

Khác với nhiều hồ khác, hồ Gươm không có các cống nước thải chảy vào, hàm lượng hữu cơ không cao... nên chỉ bị xếp vào loại có mức độ ô nhiễm trung bình, chưa đến mức đáng lo ngại. Nhưng tôi vẫn băn khoăn nghi ngờ có nước thải từ các nhà hàng xung quanh và nhà vệ sinh công cộng xả vào hồ, cộng với hiện tượng xả rác bừa bãi của những người bán hàng rong... là một trong số những nguyên nhân gây mất vệ sinh và mỹ quan lòng hồ. Cụ thể: chỉ tiêu Fe vượt từ 1 -1,5 lần so với tiêu chuẩn A, nồng độ Cu cao gấp hai lần so với quy định trong nước nuôi trồng thuỷ sản... tại những điểm này.

------------------

GS Mai Đình Yên (Hội Sinh thái học Việt Nam): "Việc cải tạo bốn hồ nội thành vừa qua đã không tính đến yếu tố sinh thái học và tính chất của hồ"

Trong thời gian qua, thành phố Hà Nội đã tiến hành cải tạo bốn hồ: Thiền Quang, Thành Công, Giảng Võ và Thanh Nhàn bằng cách thức xem những hồ này như bể chứa nước, tát sạch nước đi rồi đào bùn, vét hết sinh vật ở dưới đáy làm cho đa dạng sinh học trong hồ bị mất. Điều này khiến cho khả năng tự lọc sạch của các hồ tự nhiên dựa trên sinh vật, thực vật, tảo, cá không còn nữa. Vì thế chắc chắn hồ sẽ bị ô nhiễm và phải thay nước thường xuyên, còn nếu muốn xử lý thì rất tốn kém.

Biện pháp khắc phục trước mắt của bốn hồ này phải làm là đưa một "quần xã sinh vật" vào đó như tảo, thực vật thủy sinh... rồi tới động vật không xương sống, sau đó là cá... Đồng thời, phải thường xuyên tiến hành đo chất lượng nước các hồ để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp, không được làm nước bị ô nhiễm thêm.

Có thể bạn quan tâm