Những sai sót không đáng có
Lỗi phổ biến của các bài thi, đáng buồn lại là tình trạng viết sai chính tả và sai ngữ pháp - thầy Hòa cho biết. Các thí sinh thường viết: "làm lên" thay vì "làm nên", "xâu xắc" thay vì "sâu sắc". Thậm chí, có những lỗi nực cười vì làm biến đổi hoàn toàn nghĩa của từ. Không ít thí sinh viết "ông là một nhà thơ lãn mạng" - không hiểu do viết vội nên thiếu nét, hay do các em hoàn toàn không hiểu từ này. Còn những từ rất thường gặp như "chiến tranh" hay "trữ tình", "chân thực" hay bị cải biên thành "triến tranh", "chữ tình", "trân thực". Còn "rẻ rúng" được viết thành "giẻ dúm", "tấn bi kịch" được "sửa" thành "tấm bi kịch"!
Điều đáng buồn hơn nữa là mặc dù đã hoàn thành bậc học phổ thông nhưng rất nhiều sĩ tử không có khả năng viết một câu "lành lặn", đầy đủ các thành phần và rõ nghĩa. Xin đặt ra ngoài những câu đặc biệt cần rút gọn.
Trong bài thi của thí sinh rất nhiều câu "què" câu "cụt" vì khi thì thiếu chủ ngữ, lúc thiếu vị ngữ, thậm chí chẳng có chủ, chẳng có vị, chỉ trần trụi thành phần trạng ngữ mà thôi. Thí sinh có vẻ rất "đãng trí", khi viết "Với nỗi buồn đau sâu sắc và sự cảm thương vô bờ bến dành cho nhân vật" rồi chấm câu. Hoặc "Trong tâm trạng rối bời và giằng xé" rồi cũng... chấm câu.
Nhiều câu văn dài dòng, dây cà dây muống nhưng tối nghĩa, chẳng thể biết "tác giả" muốn "gửi gắm" điều gì. Những lỗi về ngữ pháp rất đơn giản và cơ bản này phản ánh thực trạng đáng buồn về khả năng diễn đạt của thí sinh, cũng phản ánh cách học "chỉ cốt đủ ý" đối với các môn xã hội.
Lỗi thứ hai thuộc về trách nhiệm của các thí sinh, chính là những sai sót về mặt kiến thức. Trong cấu trúc đề bài thi môn văn, thường có phần kiểm tra kiến thức đơn thuần với barem khoảng 2- 2,5 điểm. Cả chương trình phổ thông chỉ có bảy tác giả, vậy nhưng theo thầy La Khắc Hòa, suốt hai ngày chấm thi vừa qua, chỉ có hai thí sinh được trọn vẹn cả 2 điểm cho câu hỏi về sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Tuân.
Các sai sót của thí sinh đôi lúc khiến các thầy cô giáo chấm thi phải bật cười. Tuy nhiên, ngay sau nụ cười là những nỗi buồn. Thực chẳng có gì vui vẻ khi thí sinh gọi Nguyễn Tuân là "nhà thơ" và Chế Lan Viên là một "nhà văn lớn". Có thí sinh, còn hùng hồn khẳng định : "Nguyễn Tuân là tác giả của những áng văn thiên cổ, là người say mê tái hiện các nhân vật lịch sử nổi tiếng cùng thời như Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát" (!)
Và lỗi... không của thí sinh
Một trong những sai sót thường gặp của thí sinh là tình trạng lan man trong bài viết. Đề bài yêu cầu "phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo từ sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để làm rõ bi kịch của nhân vật này" thì thí sinh lại say sưa kể lại quá trình gặp gỡ của "đôi lứa xứng đôi".
Với câu thơ "Con lại gặp nhân dân như nai về suối cũ" thì các thí sinh say sưa "bình loạn": "Nai ở đây là gì? Nai là một động vật ngây thơ trong sáng, rất dễ thương trong những khu rừng nhiệt đới" rồi liên hệ tới con nai của Xuân Diệu, "con nai của Lưu Trọng Lư"... mà chẳng quan tâm gì tới chính văn bản cần bình luận.
Đây là một sai sót mang tính "truyền thống" của các thí sinh. Chẳng vậy mà đã có năm, thí sinh khi được giao bình giảng khổ đầu bài thơ "Đây thôn Vỹ Dạ" (Sao anh không về chơi thôn Vỹ...) đã biến nhà thơ Hàn Mặc Tử thành một... nhà quảng cáo du lịch với những lời mời gọi: "Hãy về thăm thôn Vỹ đi , thôn Vỹ có nắng mới, có hàng cau, có vườn cây và có cả mặt chữ điền" (!)
Theo PGS, TS La Khắc Hòa, những sai sót này có nguyên nhân từ sự hời hợt trong nhận thức của học sinh, nhưng cũng phản ánh sự hời hợt trong chính cách giảng dạy của các thầy cô giáo.
Thầy Hòa trầm ngâm khi nhắc đến lỗi phổ biến nhất "lỗi mà không phải lỗi" trong các bài thi năm nay, đó là sự thiếu sự sáng tạo. Hàng nghìn bài thi "trúng khẩu đồng từ". Các bài thi, nhất là những bài điểm khá cao đều na ná như nhau, "giống đáp án, giống sách giáo khoa và giống các tài liệu tham khảo".
Với các đoạn thơ của bài "Tiếng hát con tàu", nỗi nhớ Tây Bắc của nhà thơ được cụ thể thành các khổ thơ "con nhớ mế...", "con nhớ anh...", "con nhớ em..." rất rõ ràng. Nếu thí sinh thực sự cảm thụ bài thơ và thực sự hiểu phong cách thơ giàu trí tuệ của tác giả Chế Lan Viên, sẽ nhận ra được tính triết lý, cũng như tư duy logic trong các đoạn thơ. Bản thân nhà thơ, vì hoàn cảnh riêng, đã không thể theo "con tàu lên Tây Bắc" được nhưng nét tài hoa vẫn làm hiện lên một Tây Bắc trong nỗi nhớ với đầy đủ các thành phần "già, trẻ, trai, gái".
Vậy mà, thực đáng tiếc, rất nhiều bài làm của thí sinh đều nói chung chung "nỗi nhớ thiết tha, da diết" chứ không làm bật được nét riêng trong phong cách của tác giả. Không hiểu do các lớp đi trước đã phát hiện hết nét hay, nét đẹp của những khổ thơ này, hay do chính các em đã quen với cách viết sáo mòn, không xuất phát từ cảm nhận thực và không dám bày tỏ suy nghĩ độc lập của mình?
Hiện nay, ngành Giáo dục đang hô hào về cách dạy, cách học theo phương pháp mới, vậy nhưng thí sinh vẫn phải học thuộc lòng một cách máy móc những bài bình giảng, mà không cảm thụ văn chương bằng chính tâm hồn mình, không dám đi "lệch đáp án", sợ rằng sẽ "mất điểm".
Thầy Hòa trầm ngâm: "Đối với những thầy cô giáo từng nhiều năm trên bục giảng như chúng tôi đó chính là nỗi buồn lớn nhất".