Nồng ấm tình quân dân
Chiếc ca-nô chạy vòng vèo trên sông Vinh Hạn, đưa chúng tôi ra cửa biển Vàm Lũng, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau. Tháng 10, mùa gió chướng lại về, nước triều rút cạn; cửa biển tất bật tàu thuyền của ngư dân hoạt động khai thác thủy sản.
Địa danh Vàm Lũng đã đi vào sử sách: nơi cách đây tròn nửa thế kỷ là bến bãi đón chuyến tàu đầu tiên-tàu “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam cặp bến an toàn trong niềm mong đợi, vui mừng của cán bộ chiến sĩ Đoàn 962 và bà con vùng quê cách mạng xã Tân Ân. Ông cụ Ngô Văn Phóc, nay đã 80 tuổi, nhớ lại về những ngày đầu xây dựng bến bãi, kho tàng tại Tân Ân để tiếp nhận vũ khí, thuốc men, quân trang, quân dụng… từ đoàn tàu không số. Năm 1962, địa bàn xã Tân Ân có nhiều đồn bót của địch; cư dân thưa thớt, chủ yếu làm nghề đóng đáy tại các cửa sông thông ra biển, như Rạch Gốc, Vàm Lũng, Rạch Ráng, Xẻo Già, Hóc Năng...
Hồi đó, nguồn lợi từ biển dồi dào, mỗi ngày một miệng đáy có thể thu về hàng tấn tôm, cá các loại, bà con sống nhờ vào “rừng vàng biển bạc”. Cùng thời gian này, có những “cán bộ”, sau này người dân mới biết là chiến sĩ Đoàn 962, đến vận động bà con di dời nhà và các miệng đáy đến nơi khác làm ăn, sinh sống để nhường địa bàn cho cách mạng xây dựng bến bãi, kho tàng. Chỉ trong thời gian ngắn, bà con vui vẻ tự nguyện chấp nhận di dời ngay.
Có lần, chuyến tàu chở vũ khí từ miền Bắc vào cửa Vàm Lũng vào lúc thủy triều xuống thấp nên tàu bị mắc cạn. Nhận được tin tàu của ta bị cạn, ngay trong đêm, cán bộ, dân quân chánh, du kích và bà con dùng ghe xuồng nhỏ cấp tốc chở vũ khí vào kho bãi an toàn. Để bảo vệ con tàu, những cây đước, cây mắm… to được bà con đốn hạ để ngụy trang, chờ nước triều lên di chuyển tàu vào nơi trú ẩn an toàn.
Là cựu chiến sỹ của Đoàn 962, ông Dương Thanh Hải, Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Tân Ân, nhớ lại: trên địa bàn xã Tân Ân có khá nhiều kho cất giữ vũ khí, quân trang, quân dụng: kho Vàm Lũng, Láng Cháo, Cả Bần, Kiến Vàng…và mỗi kho có 4-5 chiến sỹ phụ trách canh giữ, bảo vệ. Cùng với Đoàn tàu không số vận chuyển vũ khí; Đoàn 962 thực hiện nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa xây dựng hậu cứ, bến bãi an toàn; tạo dựng niềm tin, gắn bó mối quan hệ máu thịt với quần chúng nhân dân nơi đơn vị đóng quân và tổ chức tiếp nhận, chuyển vũ khí đến các chiến trường miền Nam.
Do khoảng cách giữa nhà dân với các đơn vị trực thuộc Trung đoàn 962 rất gần nên ý thức cảnh giác trước “tai mắt” của địch đã ăn sâu vào tâm trí người dân Tân Ân. Bà con đều thuộc nằm lòng những cái “không” như… quân lệnh. Đó là “Không biết, không nghe, không thấy” và “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Hằng đêm, tầm hai, ba giờ sáng là mọi người thức dậy nấu ăn, vì sợ nấu ăn ban ngày địch phát hiện khói sẽ cho máy bay bắn phá. Nhờ vậy, trong thời gian dài, các đơn vị cách mạng, các bến bãi, kho tàng tại Tân Ân luôn bảo đảm bí mật, không bị địch phát hiện.
Để chống lại âm mưu, thủ đoạn của địch đánh phá cơ sở cách mạng, chi bộ Đảng xã Tân Ân phối hợp với cán bộ, chiến sĩ Đoàn 962 hướng dẫn nhân dân tổ chức thành những đội tự vệ “Dân canh chống cướp”. Mỗi khi có địch bố ráp, lùng sục bắt người thì lập tức nhân dân đánh mỏ báo động, đốt đuốc, cầm gậy gộc đấu tranh với lý lẽ chống bọn trộm cướp. Nhờ sức mạnh của bà con đấu tranh có lý, có tình cho nên đã qua mặt được kẻ địch, bảo vệ an toàn nơi cất giữ vũ khí.
Đồng chí Phan Danh, Phó bí thư Huyện ủy Ngọc Hiển, chia sẻ: dọc dài các tỉnh ven biển Nam Bộ từ Trà Vinh đến Cà Mau có rất nhiều bến, bãi tiếp nhận vũ khí từ “Đoàn tàu không số”. Trong đó, sự kiện tàu “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí của Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Anh hùng với biệt danh "Tàu không số", cặp bến Vàm Lũng an toàn đã làm nên kỳ tích con đường huyền thoại - Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Từ năm 1961 đến 1975, "Đoàn tàu không số”, Đường Hồ Chí Minh trên biển đã vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí các loại, với hàng nghìn lượt cán bộ vượt biển vào Nam tham gia chiến đấu. Riêng tại các bến bãi thuộc địa bàn tỉnh Cà Mau đã tiếp nhận 76 chuyến tàu, trong đó riêng bến Vàm Lũng đã tiếp nhận 68 chuyến với trên 4,3 nghìn tấn vũ khí, góp phần quan trọng cho những thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Gần 15 năm vận chuyển vũ khí trên biển từ Bắc vào Nam, Vàm Lũng là bến cuối của Đường Hồ Chí Minh trên biển đã bảo vệ an toàn tuyệt đối các tàu vào, ra… Tổ chức tốt việc tiếp nhận vũ khí nhờ có sự đùm bọc, chở che, mưu trí và tấm lòng trung kiên của bà con xã Tân Ân anh hùng nói riêng và nhân dân Cà Mau nói chung quyết tâm một lòng theo cách mạng; cùng với các vị bộ đội làm nên “Bến cảng lòng dân”, xây dựng những kho cất giữ vũ khí giữa đại ngàn rừng đước mũi Cà Mau. Để phát huy hiệu quả từ sự chi viện to lớn này, những cung đường mới do Đoàn 962 tổ chức đã xuyên qua mạng lưới tàu tuần tiễu ven biển của giặc và len lỏi qua bao đồn, bót trong vùng giặc tạm chiếm để chuyển vũ khí kịp thời đến các chiến trường Nam Bộ, góp phần cùng quân dân miền Nam làm nên cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 và đại thắng Mùa xuân 1975.
Xây dựng vùng quê cách mạng đẹp giàu
Phát huy truyền thống cách mạng kiên trung, góp phần làm nên huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển trong chiến tranh; nhiều năm qua, Đảng bộ và quân, dân Tân Ân tiếp tục khẳng định mình tập trung phát triển lợi thế “rừng vàng, biển bạc”. Trên cơ sở xác định sản xuất nuôi trồng, khai thác thủy sản biển là thế mạnh hàng đầu, từ đó xã tập trung đầu tư phát triển lĩnh vực này bằng những mô hình, cách làm cụ thể nuôi trồng thủy sản đa con có giá trị kinh tế cao.
Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong những năm qua, nhiều công trình thủy lợi kết hợp với giao thông nông thôn phòng, chống nước biển dâng, sạt lở được làm mới. Từ đó, bà con ngư dân mạnh dạn đầu tư tàu thuyền đánh bắt xa bờ; phá thế độc canh con tôm, chuyển dần sang mô hình sản xuất đa canh, đa con nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa; từng bước đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào ao đầm nuôi tôm gắn với bảo vệ môi trường sản xuất bền vững, tạo bước chuyển mới. Toàn xã hiện có 288 tàu khai thác biển, trong đó có 65 chiếc khai xa bờ và gần 4 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm. Nghề nuôi tôm đã đạt năng suất bình quân trên 1,5 tấn/ha; nghề biển với hàng trăm hộ sản xuất: đóng đáy sông, đáy hàng khơi, cào biển…mỗi năm khai thác hàng nghìn tấn thủy sản.
Những năm gần đây, Tân Ân còn phát triển mạnh nghề sản xuất, cung ứng tôm giống; đặc biệt là khai thác từ biển khơi nguồn tôm sú giống bố, mẹ rất lớn cho hàng nghìn trại giống các tỉnh trong vùng ĐBSCL. Đặc biệt, với diện tích gần 8,5 nghìn ha rừng ngập mặn, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển, Tân Ân đã vận động, tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý, sản xuất gắn với bão vệ, giữ rừng và làm tốt việc bảo tồn các loài động, thực vật quý hiếm và khoáng sản dưới tán rừng.
Trên đà phát triển khá nhanh về kinh doanh các ngành nghề dịch vụ, thương mại, nhất là lĩnh vực hậu cần phục vụ nghề cá đã và đang tạo vị thế mới nhộn nhịp, năng động cho Tân Ân, xã “đầu sóng ngọn gió” ở địa đầu miền cực Nam Tổ quốc. Việc huy động, sử dụng các nguồn lực, các nguồn quỹ hỗ trợ gắn với việc lòng nghép các chương trình, Tân Ân đã giảm đáng kể số hộ nghèo. Coi trọng, chắt chiu từng đồng vốn ngân sách, từng đồng tiền đóng góp của người dân, những năm gần đây xã nghèo Tân Ân đã xây dựng khá nhiều công trình kiên cố trạm y tế, trường học; cầu, lộ giao thông nông thôn nối dài nhiều thôn xóm vùng quê cách mạng. Đến nay, toàn xã có 90% số hộ dân sử dụng điện lưới; 100% sử dụng nước sạch nối mạng; hàng trăm hộ dân từ các cửa biển, cửa sông luôn đối mặt với triều cường, sóng biển, sạt lở trong mùa mưa bảo đã được di dời đến nơi an toàn tại các cụm, tuyến dân cư mới và được cấp đất sản xuất, ổn định dần cuộc sống.
Về lại Tân Ân, Rạch Gốc, Ngọc Hiển trong những ngày này, hỏi chuyện nhiều bà con, mọi người đều trân trọng tri ân và tưởng nhớ đến những cán bộ, chiến sỹ, đồng bào đã hy sinh để làm nên kỳ tích “Đường Hồ Chí Minh trên biển”; trong đó có công lao to lớn của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Bông Văn Dĩa. Là chàng trai xứ Rạch Gốc, được Đảng giao nhiệm vụ, tháng 8 năm 1961, Bông Văn Dĩa cùng với đồng đội của mình xuất phát từ mũi Cà Mau bằng chiếc thuyền gỗ thô sơ vượt hàng nghìn km giữa trùng khơi; dũng cảm và không khéo tránh sự theo dõi của tàu địch bao vây; ra đến miền Bắc an toàn để sau này, hình thành, mở Đường Hồ Chí Minh trên biển…
Nữa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức, hoài niệm về đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển vẫn luôn ngời sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau noi gương, tiếp bước. Trân trọng và tự hào, trên quê hương của những con tàu không số cách đây 50 năm đã từng cặp bến an toàn; ngày nay, Đảng bộ và nhân dân huyện Ngọc Hiển đã và đang tiếp nối truyền thống cách mạng vẽ vang về tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, luôn phấn đấu nỗ lực vượt lên bao khó khăn trong công cuộc xây dựng quê hương giàu đẹp.