Bộ Tư pháp đang thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định) do Bộ Nội vụ xây dựng.
MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU HIỆN NAY KHÔNG BẢO ĐẢM MỨC SỐNG TỐI THIỂU ĐẾN HẾT NĂM 2027
Bộ Nội vụ cho biết, căn cứ quy định của Bộ luật Lao động, khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia và đề xuất của Bộ Nội vụ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, trong đó điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng bình quân 7,2% so với năm 2024 để thực hiện từ ngày 1/1/2026.
Theo đó, với quy định hiện hành, mức lương tối thiểu theo tháng áp dụng tại vùng I là 5.310.000 đồng, vùng II là 4.730.000 đồng, vùng III là 4.140.000 đồng, vùng IV là 3.700.000 đồng. Mức lương tối thiểu theo giờ tại vùng I là 25.500 đồng/giờ, vùng II là 22.700 đồng/giờ, vùng III là 20.000 đồng/giờ, vùng IV là 17.800 đồng/giờ.
Bộ Nội vụ đánh giá, các mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP nêu trên đã bảo đảm mức sống tối thiểu và có cải thiện hơn cho người lao động; có sự chia sẻ, hài hòa lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, vừa cải thiện đời sống cho người lao động, vừa bảo đảm duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đến nay, có một số vấn đề đặt ra cần phải xem xét điều chỉnh mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP nêu trên với một số lý do.
Trước hết, các yếu tố về kinh tế-xã hội, thị trường lao động, khả năng của doanh nghiệp tiếp tục duy trì sự ổn định: Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) sáu tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%); thị trường lao động ổn định, lực lượng lao động tiếp tục tăng; sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ghi nhận sự ổn định; tiền lương, thu nhập của người lao động tiếp tục ổn định và tăng lên, quý sau cao hơn quý trước.
Cùng với đó, giá trị thực tế của mức lương tối thiểu tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP bị suy giảm dần theo thời gian do chỉ số giá tiêu dùng tăng (CPI). Với dự kiến CPI năm 2026 và 2027 được Quốc hội đặt mục tiêu mỗi năm tăng 4,5%, mức lương tối thiểu nêu trên sẽ không còn bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ đến hết năm 2027 (thấp hơn khoảng 4,1%).
Thêm vào đó, mức lương tối thiểu tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP được xác lập theo vùng và gắn với địa giới hành chính cấp xã. Tuy nhiên, đến nay, một số địa bàn áp dụng lương tối thiểu đã không còn phù hợp do có sự thay đổi về địa giới hành chính (đổi tên, thành lập mới, nhập, giải thể) sau khi thực hiện sắp xếp lại theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; hoặc có sự thay đổi về điều kiện cơ sở hạ tầng, thị trường lao động, chính sách thu hút đầu tư..., và cần phải rà soát, cập nhật.
Ngoài ra, ngày 4/8/2026, Hội đồng Tiền lương quốc gia đã có báo cáo số 008/BC-HĐTLQG gửi Chính phủ khuyến nghị điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng bình quân 7,8%, áp dụng từ ngày 1/1/2027.
Thực tế trên cho thấy, việc xây dựng Nghị định quy định mức lương tối thiểu để áp dụng cho năm 2027 là rất cần thiết. Mục đích là bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động, tăng tiền lương của người lao động phù hợp với năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Lao động 2019; đi cùng với cập nhật, điều chỉnh phân vùng địa bàn áp dụng lương tối thiểu cho phù hợp tình hình thực tế.
Ngày 20/7/2026, Bộ Nội vụ đã có công văn số 7707/BNV-CTL&BHXH gửi lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan. Trong đó, có tổng số 56 đơn vị được lấy ý kiến, gồm: 34 tỉnh/thành phố; 16 bộ, ngành, cơ quan ngang bộ; 6 cơ quan liên quan. Qua đó, 54 đơn vị có ý kiến, với 33 đơn vị có ý kiến thống nhất hoàn toàn với nội dung dự thảo, 22 đơn vị có ý kiến thống nhất và có thêm ý kiến góp ý.
Theo đề xuất, thời điểm điều chỉnh mức lương tối thiểu dự kiến thực hiện từ ngày 1/1/2027 nhằm bảo đảm thời gian cho doanh nghiệp chuẩn bị phương án, nguồn lực thực hiện.
MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CAO NHẤT LÀ 5.700.000 ĐỒNG/THÁNG
Dự thảo Nghị định quy định việc điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng 7,8% so với mức hiện hành để áp dụng từ ngày 1/1/2027.
Cụ thể, dự thảo nghị định quy định các mức lương tối thiểu tháng theo 4 vùng: vùng I là 5.700.000 đồng/tháng, vùng II là 5.080.000 đồng/tháng, vùng III là 4.450.000 đồng/tháng, vùng IV là 4.040.000 đồng/tháng.
Mức lương tối thiểu nêu trên tăng từ 310.000 đồng-390.000 đồng (tương ứng tỷ lệ bình quân 7,8%) so với mức lương tối thiểu hiện hành. Mức điều chỉnh lương tối thiểu nêu trên cao hơn khoảng 3,7% so với mức sống tối thiểu của người lao động đến hết năm 2027 để cải thiện cho người lao động. Mức điều chỉnh này có sự chia sẻ, hài hòa lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, vừa chú ý cải thiện đời sống cho người lao động, vừa chú ý đến việc bảo đảm duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Quy định các mức lương tối thiểu giờ theo 4 vùng: vùng I là 27.400 đồng/giờ, vùng II là 24.400 đồng/giờ, vùng III là 21.400 đồng/giờ, vùng IV là 19.400 đồng/giờ.
BẢY TỈNH/THÀNH PHỐ ĐỀ XUẤT ĐIỀU CHỈNH ĐỊA BÀN ÁP DỤNG LƯƠNG TỐI THIỂU
Một nội dung đáng quan tâm trong dự thảo Nghị định này là địa bàn phân vùng.
Theo Bộ Nội vụ, nguyên tắc áp dụng phân vùng cơ bản kế thừa theo danh mục quy định hiện hành; rà soát, cập nhật lại tên một số địa bàn sau khi có sự thay đổi do thực hiện sắp xếp lại địa giới hành chính theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng thời, xem xét điều chỉnh phân vùng các địa bàn dựa trên các yếu tố về tăng trưởng kinh tế, sự thay đổi về hạ tầng, mức độ phát triển thị trường lao động, vùng thu hút đầu tư...
Sau khi Bộ Nội vụ gửi công văn cho bộ, ngành, địa phương đề nghị góp ý dự thảo Nghị định, có 7 tỉnh/thành phố đề xuất điều chỉnh địa bàn áp dụng lương tối thiểu. Đó là các địa phương: Hưng Yên, Đà Nẵng, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh và Gia Lai.
Theo đó, dự thảo điều chỉnh từ vùng II lên vùng I đối với: Các xã Thanh Hà, Hà Tây, Hà Bắc, Hà Nam, Hà Đông, Ninh Giang, Vĩnh Lại, Khúc Thừa Dụ, Tân An, Hồng Châu, Thanh Miện, Bắc Thanh Miện, Nam Thanh Miện, Hải Hưng thuộc thành phố Hải Phòng; Phường Bình phước và các xã Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú, Thuận Lợi thuộc thành phố Đồng Nai; Các phường Bà Rịa, Long Hương, Tam Long, các xã Ngãi Giao, Nghĩa Thành, Kim Long, Châu Đức, Long Hải, Long Điền, Bình Khánh, An Thới Đông, Cần Giờ, Thạnh An và Đặc khu Côn Đảo thuộc Thành phố Hồ Chí Minh; phường Mông Dương, Quang Hanh, Cẩm Phả, Cửa Ông và xã Hải Hòa thuộc thành phố Quảng Ninh.
Điều chỉnh từ vùng III lên vùng II đối với: Các phường Điện Bàn, Điện Bàn Đông, An Thắng, Điện Bàn Bắc và các xã Điện Bàn Tây, Gò Nổi thuộc thành phố Đà Nẵng; Phường Phước Long và xã Tân Khai thuộc thành phố Đồng Nai; Các xã Bình Giã, Xuân Sơn, Đất Đỏ, Phước Hải, Hồ Tràm, Xuyên Mộc, Hòa Hội, Bàu Lâm, Bình Châu, Hòa Hiệp thuộc Thành phố Hồ Chí Minh; các xã Quảng Hà, Quảng Đức, Đường Hoa, Cái Chiên, Tiên Yên, Đầm Hà và đặc khu Vân Đồn thuộc Thành phố Quảng Ninh; Các phường Quy Nhơn, Quy Nhơn Đông, Quy Nhơn Tây, Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Bắc, Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai.
Điều chỉnh từ vùng IV lên vùng III đối với: Các xã Đông Hưng, Bắc Tiên Hưng, Đông Tiên Hưng, Nam Đông Hưng, Bắc Đông Quan, Bắc Đông Hưng, Đông Quan, Nam Tiên Hưng, Tiên Hưng, Quỳnh Phụ, Minh Thọ, Nguyễn Du, Quỳnh An, Ngọc Lâm, Đồng Bằng, A Sào, Tân Tiến, Phụ Dực, Hưng Hà, Tiên La, Lê Quý Đôn, Hồng Minh, Thần Khê, Diên Hà, Ngự Thiên, Long Hưng, Lê Lợi, Kiến Xương, Quang Lịch, Vũ Quý, Bình Thanh, Bình Định, Hồng Vũ, Bình Nguyên, Trà Giang, Vũ Thư, Vũ Tiên, Vạn Xuân, Thư Trì, Tân Thuận, Thư Vũ thuộc tỉnh Hưng Yên; các xã Bình Liêu, Hoành Mô, Lục Hồn, Ba Chẽ, Kỳ Thượng, Lương Minh và đặc khu Cô Tô thuộc thành phố Quảng Ninh; Các phường Bình Định, An Nhơn, An Nhơn Đông, An Nhơn Nam, An Nhơn Bắc, Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Tam Quan, Hoài Nhơn Đông, Hoài Nhơn Tây, Hoài Nhơn Nam, Hoài Nhơn Bắc thuộc tỉnh Gia Lai.
Các địa phương nêu trên đều đã thực hiện quy trình lấy ý kiến các tổ chức, đơn vị liên quan và doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Đề xuất điều chỉnh vùng của các địa phương nhằm mục tiêu điều tiết thị trường lao động giữa các vùng, tạo sự cân đối hợp lý về giá nhân công giữa các địa bàn lân cận, hoặc do các địa bàn trên có sự phát triển về thị trường lao động, hình thành các khu, cụm công nghiệp, điều kiện cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, giáp với các địa bàn khác có mức lương tối thiểu cao hơn.
Thêm vào đó, sau hơn một năm thực hiện phân vùng mới, các xã đã được sắp xếp theo hướng mở rộng địa giới hành chính, đã đi vào hoạt động ổn định, điều kiện cơ sở hạ tầng được cải thiện.
Cùng với đó, việc điều chỉnh nâng vùng trong thời gian qua được đánh giá góp phần bảo đảm tiền lương của người lao động nhưng không ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí của doanh nghiệp, giữ ổn định quan hệ lao động. Vì vậy, Bộ Nội vụ thống nhất tiếp thu đề xuất điều chỉnh các địa bàn áp dụng thuộc 7 tỉnh/thành phố nêu trên để báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.