Năm vừa qua, toàn tỉnh chế biến hơn 40.000 tấn hạt điều nguyên liệu, sản xuất 12.000 tấn nhân, trong đó xuất khẩu hơn 10.000 tấn, chiếm 10% sản lượng nhân hạt điều xuất khẩu của cả nước, đưa Phú Yên trở thành tỉnh dẫn đầu của cả nước về xuất khẩu nhân hạt điều.
Ðáng chú ý, trong khi năng lực chế biến hạt điều của tỉnh từng bước mở rộng, song vùng nguyên liệu chưa phát triển tương xứng. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), toàn tỉnh hiện có gần 3.500 ha điều, trong đó nhiều nhất là huyện Ðồng Xuân với 1.420 ha. Phần lớn diện tích điều này được trồng từ Chương trình 327, Chương trình PAM với chức năng phòng hộ là chính nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Trong đó chỉ có khoảng 2.000 ha cho quả với năng suất bình quân bốn tạ/ha. Như vậy, mỗi năm Phú Yên thu hoạch được 800 tấn điều thô, chiếm một phần rất nhỏ so với nhu cầu nguyên liệu chế biến của các nhà máy trong tỉnh. Ðó là kể chất lượng hạt điều của tỉnh cũng không đồng đều, nếu không nói là kém so với các nơi khác.
Trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh được xác định tại Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 13, có đề ra mục tiêu đến năm 2005 đưa diện tích điều lên 8.000 ha, nghĩa là chỉ đứng sau cây lúa và cây mía. Ðây là cây trồng có vốn đầu tư ban đầu không lớn, khoảng bốn triệu đồng/ha. Trồng trên đất đồi, nương rẫy nghèo dinh dưỡng vẫn có khả năng cho năng suất một tấn/ha trong suốt thời kỳ kinh doanh 20 năm. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, cây điều còn có tác động tích cực về mặt môi trường, nhất là đối với vùng đồi núi sau nhiều năm khai thác đã bạc màu đang cần cải tạo đất là rất cần thiết. Thực hiện chủ trương phát triển cây điều, từ năm 2001, Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên đã có đề tài khoa học về tuyển chọn và nhân giống điều ghép. Qua trồng thực nghiệm ở nhiều vùng trong tỉnh đã cho thấy cây điều ghép sau ba năm trồng đã cho sản phẩm với năng suất 5 tạ/ha và khả năng đạt từ 1,2 đến 1,5 tấn/ha từ năm thứ năm trở đi, nếu thâm canh giỏi có thể đạt đến ba tấn/ha. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà việc phát triển cây điều chưa được chú ý nên diện tích điều của tỉnh chẳng những không tăng mà còn có khuynh hướng giảm do người dân phá bỏ để trồng cây khác có hiệu quả kinh tế hơn.
Trong khi cây điều không được quan tâm thì cây mía lại phát triển ồ ạt, có thời điểm đã lên đến 20.500 ha. Phần lớn diện tích mía được mở rộng sau này được trồng trên đất nương rẫy, gò đồi không có nước tưới nên năng suất thấp. Gặp năm giá đường sụt giảm, cây mía tiêu thụ khó khăn người trồng mía càng thua lỗ. Nhận thấy sự bất cập đó, năm 2003, huyện miền núi Ðồng Xuân chủ trương chuyển diện tích mía đồi năng suất thấp thấp sang trồng điều. Huyện lập kế hoạch trong ba năm (2003- 2005) cung cấp giống cho nông dân trồng 750 ha. Theo đó, huyện sẽ hỗ trợ cây giống, một phần vật tư phân bón và hướng dẫn kỹ thuật cho bà con thâm canh cây điều tạo sản phẩm hàng hóa. Nhờ đó, trong năm đầu triển khai, Ðồng Xuân đã vận động nhân dân bỏ mía đồi quá kỳ lưu gốc, trồng thay vào đó được 127 ha điều ghép. Năm vừa qua, nhờ nguồn vốn hỗ trợ của Hội Nông dân tỉnh, Trung tâm khuyến nông lâm tỉnh và vốn ngân sách của huyện, Ðồng Xuân đã đầu tư hơn 354 triệu đồng cung cấp cây giống cho nhân dân trồng thêm 319 ha, gấp 2,5 lần so với năm trước. Những địa phương có diện tích điều được trồng nhiều trong hai năm qua là thị trấn La Hai, các xã Sơn Long, Xuân Quang 2, Xuân Sơn Bắc. Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ðồng Xuân, Huỳnh Pô Pin cho biết: Quỹ đất để phát triển cây điều ở Ðồng Xuân có thể lên đến 6.000 ha, đó là những nơi có độ dốc từ 5% đến 30%, ở độ cao dưới 700 m, trước mắt chuyển 2.000 ha trong số 4.500 ha mía trồng trên đất đồi bạc màu sang trồng điều.
Trên cơ sở phát triển cây điều theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng tích cực của Ðồng Xuân, UBND tỉnh đồng ý cho ngành nông nghiệp triển khai dự án phát triển cây điều giai đoạn 2005 - 2010 với mục tiêu tạo ra vùng nguyên liệu điều 10.000 ha, bao gồm cải tạo 3.000 ha điều già cỗi và trồng mới 7.000 ha. Tổng vốn đầu tư của dự án này hơn 67,3 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước đầu tư 24,1 tỷ đồng cung cấp cây giống, hỗ trợ phân bón và tập huấn kỹ thuật cho người tham gia trồng điều. Ðể dự án phát triển cây điều thành công, cần xác định trồng điều trước hết mục tiêu kinh tế, bảo đảm cây điều cho thu nhập bằng hoặc cao hơn các cây trồng hiện có. Hiệu quả kinh tế sẽ là động lực để người dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Do vậy, trong quá trình triển khai dự án, bên cạnh quy hoạch đất đai trồng tập trung thành vùng chuyên canh để tạo sản phẩm hàng hoá có khối lượng lớn, cần chú ý thực hiện đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh ngay từ đầu. Giống điều đưa vào trồng phải có nguồn gốc rõ ràng, khả năng cho năng suất cao, chất lượng hạt tốt đạt yêu cầu chế biến xuất khẩu, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của các vùng đất. Dự án này hoàn thành, thì sau năm 2010, mỗi năm Phú Yên sẽ có hơn 10.000 tấn hạt điều thô. Sản lượng đó cũng chỉ chiếm 25% so với nhu cầu nguyên liệu của các cơ sở chế biến trong tỉnh hiện nay.
DO vậy, cùng với dự án có sự đầu tư của Nhà nước nói trên cũng cần tính đến phương án huy động các doanh nghiệp chế biến tham gia xây dựng vùng nguyên liệu thông qua hợp đồng đầu tư và tiêu thụ sản phẩm với người dân. Mặt khác, để khuyến khích người dân phát triển cây điều, tỉnh cần ưu tiên sử dụng các nguồn vốn tín dụng ưu đãi hỗ trợ người dân tham gia trồng điều để họ có nguồn trồng xen các loại cây ngắn ngày theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, đồng thời đầu tư thực hiện tốt các biện pháp thâm canh cây điều trong thời kỳ kiến thiết cơ bản.