Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được đã bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sớm tháo gỡ để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng phòng hộ và đời sống người giữ rừng tại địa phương này.
Rừng rộng, người ít, chế độ thấp
Tỉnh Quảng Bình có tổng diện tích tự nhiên 806.527 ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp 648.214 ha. Tổng diện tích quy hoạch rừng phòng hộ năm 2007 là 174.482 ha, sau khi rà soát, bóc tách đến nay diện tích rừng phòng hộ được quản lý, bảo vệ là 149.564 ha, chiếm 23% đất lâm nghiệp toàn tỉnh.
Thực hiện Quyết định số 342/QÐ-TTg ngày 26-12-2005 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch ba loại rừng đã được phê duyệt, tỉnh Quảng Bình thành lập tám Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH), trực thuộc UBND các huyện, thành phố. Trước đây, rừng phòng hộ do các lâm trường quản lý, thiếu sự phối hợp của chính quyền địa phương nên để xảy ra nhiều vụ phá rừng, khai thác rừng phòng hộ trái phép, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Từ khi chuyển mô hình quản lý, việc quản lý bảo vệ rừng phòng hộ với sự tham gia của cả hệ thống chính trị mà trong đó nòng cốt là BQLRPH nên công tác bảo vệ rừng ngày càng được củng cố, tăng cường theo hướng bảo vệ rừng tại gốc. Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Bình, tuy còn thiếu về lực lượng, cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động song các BQLRPH đã hoạt động có hiệu quả, tổ chức quản lý, bảo vệ khá tốt vốn rừng, góp phần nâng độ che phủ rừng trên địa bàn đạt 70%.
Theo quy định, đối với rừng phòng hộ thì cứ 1.000 ha rừng có một nhân viên bảo vệ, quản lý; ngoài ra bộ máy của BQLRPH có từ bảy đến chín người nữa. Nhưng thực tế, biên chế lực lượng của các BQLRPH tại tỉnh Quảng Bình đều thiếu so với quy định của Nhà nước. Theo Giám đốc BQLRPH Ðộng Châu Phạm Văn Hóa, đơn vị hiện có 22 biên chế, trừ số cán bộ thuộc bộ máy quản lý, còn thiếu sáu viên chức để bảo đảm định mức. Thiếu người nên đơn vị phải hợp đồng thêm 23 hợp đồng ngắn hạn bảo vệ rừng. Nếu viên chức bảo vệ rừng phòng hộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo ngạch bậc thì số nhân viên hợp đồng ngắn hạn bảo vệ rừng hưởng lương từ nguồn kinh phí của dự án bảo vệ và phát triển rừng bền vững (trước là dự án 661) đầu tư cho hạng mục hợp đồng bảo vệ rừng vừa thấp, lại cấp chậm. Theo kết quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình năm 2012, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ và kinh phí ngân sách T.Ư cấp còn quá hạn hẹp và giảm dần qua các năm. Ðiều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác bảo vệ rừng và đời sống người nhận khoán bảo vệ rừng. Mặt khác, định mức khoán bảo vệ đối với một ha rừng quá thấp (trước 2007 là 50.000 đồng/ha/năm, từ 2007 đến nay 100.000 đồng/ha/năm) không bảo đảm mức sống tối thiểu cho người nhận khoán bảo vệ rừng.
Tại BQLRPH Long Ðại, dù đã đầu tháng 3, nhưng lương hai tháng đầu năm 2013 của 10 nhân viên hợp đồng bảo vệ rừng vẫn chưa có. Nguyên nhân là kinh phí khoán bảo vệ rừng của dự án "rót" chậm. Có người vì quá túng thiếu nên tìm giám đốc Ban quản lý để... vay tiền. Giám đốc BQLRPH Long Ðại Nguyễn Văn Trị cho biết, không chỉ nợ lương mà đơn vị còn nợ bảo hiểm xã hội đối với số lao động hợp đồng này. Bảo hiểm xã hội huyện Quảng Ninh đã nhiều lần nhắc nhở bằng văn bản nhưng đơn vị đành phải nợ, đợi đến cuối quý
I-2013 mới có tiền để nộp và chấp nhận trả lãi.
Cần có biện pháp hỗ trợ người giữ rừng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Bình, trung bình một năm, mỗi BQLRPH được cấp khoảng một tỷ đồng để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở một số hạng mục như hợp đồng bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ và khoanh nuôi phục hồi rừng. Giai đoạn từ năm 2011 đến nay, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn, vốn đầu tư cho bảo vệ rừng bị cắt giảm. Ngân sách địa phương chủ yếu chi cho các hoạt động trả lương cán bộ viên chức, xây dựng cơ bản và tài sản cố định. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và địa phương mới chỉ đáp ứng 25% diện tích rừng phòng hộ được giao bảo vệ. Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, ảnh hưởng đến đời sống của người giữ rừng.
Thực tế cho thấy, do nguồn kinh phí trả lương eo hẹp, lại chậm khiến 87 lao động hợp đồng bảo vệ rừng tại các BQLRPH trong tỉnh Quảng Bình chưa yên tâm với công việc. Lao động nghề rừng làm việc ở vùng sâu, di chuyển nhiều, trong điều kiện không thuận lợi về địa hình, thời tiết, độ rủi ro cao, trong khi đó lương thấp, trả chậm là một nghịch lý mà các BQLRPH đã kiến nghị lên cấp trên nhiều lần song chưa được giải quyết. Theo Giám đốc Nguyễn Văn Trị, bảo vệ rừng phòng hộ là công việc đặc thù, định mức mỗi người bảo vệ 1.000 ha nhưng thực tế là không thể đi trong rừng sâu chỉ một người được mà phải hợp thành tổ, nhóm để tuần tra, bảo vệ rừng. Vì vậy, đơn vị phải tổ chức thành các trạm, chốt bảo vệ rừng, luân phiên nhau để mọi người nghỉ một ngày trong tuần. Do trong rừng sâu không có sóng điện thoại di động nên việc cập nhật tình hình, giải quyết các điểm nóng phá rừng... gặp nhiều khó khăn.
Rõ ràng, để có được kết quả là địa phương có độ che phủ rừng đứng đầu cả nước thì đóng góp của những người giữ rừng tại các BQLRPH ở tỉnh Quảng Bình rất đáng ghi nhận. Nổi bật là việc chống chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Thế nhưng, do kinh phí đầu tư cho các hoạt động của lực lượng bảo vệ rừng còn ít, công cụ hỗ trợ, phương tiện phục vụ tuần tra, kiểm soát lâm sản còn quá thiếu đã ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ rừng.
Do vậy, tỉnh Quảng Bình kiến nghị Chính phủ cần quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách thuộc các BQLRPH thực hiện thống nhất trên toàn quốc nhằm bảo đảm quyền năng pháp lý đủ mạnh để lực lượng này thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nâng mức khoán bảo vệ rừng để phù hợp với tình hình hiện nay, đồng thời bảo đảm đời sống tối thiểu cho người giữ rừng; đồng thời rà soát, đánh giá hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn chương trình bảo vệ và phát triển rừng nhằm có hướng thay đổi phù hợp, đặc biệt trong thực hiện khoán bảo vệ rừng và hợp đồng lao động ngắn hạn.