Trong xu hướng mở rộng những lãnh địa của cuộc sống và hướng tới làm chủ đến tận cùng mọi tri thức, con người vươn tới một hình thái lưu truyền quán xuyến tất thảy - đó là sự níu kéo, giành giật lấy những gì cha ông để lại, lẽ ra phải bị thời gian cuốn đi, để bảo tồn, để phát huy và trao vào tay các thế hệ mai sau. Hình thức lưu truyền ấy mệnh danh là bảo tồn. Ðối tượng của bảo tồn là di sản văn hóa, bao gồm di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa vật thể cùng di sản thiên nhiên.
...Ở thế kỷ 19 và cho đến cách nay vài thập kỷ, người ta chú trọng bảo vệ những tuyệt tác nghệ thuật, đặc biệt là các công trình kiến trúc. Vài thập kỷ gần đây, khái niệm di sản văn hóa được mở rộng không những sang địa hạt phi vật thể, mà còn bao hàm những đối tượng không bắt buộc có niên đại xa xưa, không bắt buộc là kiệt xuất, không bắt buộc phải đẹp và quý giá. Những tiêu chí cơ bản được sử dụng trong đánh giá di sản là giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật... Di tích và di sản có thể là những thể loại âm nhạc dân gian hoặc sân khấu, những cây cầu sắt xây dựng ở thế kỷ 19, những dãy phố hay khu phố cổ hoặc cũ... Có thể được liệt vào diện di sản những đối tượng chưa hẳn có giá trị cho hôm nay, song sẽ có giá trị kiệt xuất cho tương lai.
Bảo tồn đặt mục đích trước tiên và trên hết giữ gìn nguyên vẹn, không biến đổi và lâu dài các di tích. Sự nguyên vẹn được hiểu là sự duy trì tối đa các đặc điểm của di tích, tính nguyên gốc và tính thời gian của nó, và đặc biệt, việc giữ lại đầy đủ những thông tin lịch sử mà nó hàm chứa. Di tích càng có niên đại xa xưa, càng độc hiếm, thì càng phải bảo tồn triệt để. Các văn tự cổ được lưu giữ trong những điều kiện không thể bị hủy hoại, người ta khai thác chúng vào các mục đích khoa học, song không ai tính đến chuyện biên tập lại hoặc chỉnh sửa chúng. Các nhạc cụ cổ hoặc dân gian cũng đòi hỏi cách ứng xử tương tự, hễ chúng được coi là đối tượng của bảo tồn.
Các di tích lịch sử và văn hóa ở dạng bất động sản, như Lam Kinh ở Thanh Hóa, các tháp Chăm ở Mỹ Sơn cần được giữ lại nguyên vẹn cho mai sau, chính từ quan điểm về chúng như những nhân chứng cực kỳ hiếm hoi của những thời kỳ lịch sử đã hoàn toàn lui tụt vào dĩ vãng. Cả một thời huy hoàng như Lê Sơ, với hai vĩ nhân là Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông, chỉ duy nhất đại diện bởi hai di tích, hai vết tích, đó là Lam Kinh và nền điện Kính Thiên ở Hà Nội. Dù cho chúng là phế tích, dù cho chúng không đồ sộ và nguy nga như ta mong muốn, song việc cứu vớt chúng, duy trì chúng ở dạng còn sót lại cho đến nay, phải là mục tiêu số 1. Trùng tu là nhằm mục đích ấy. Nếu làm những phế tích (phế tích là tình trạng kỹ thuật, chứ không phải là cấp độ giá trị) ấy bị nghèo nàn đi về phương diện thông tin lịch sử xác thực, làm cho chúng bị biến dạng, điều đó có nghĩa là những nhân chứng vật chất cuối cùng của thời Lê Sơ (thế kỷ 15-16) sẽ chịu sự mất mát không tài nào bù đắp được.
Chúng ta nên chủ trương, ngoài sưu tầm và ghi chép, nên thiết lập những nhà hát - sân khấu - bảo tàng đặc trưng dành cho việc lưu giữ lâu dài ở dạng sống động, những hình thức âm nhạc, sân khấu dân gian hoặc cổ truyền. Ở những nơi đó chúng được duy trì hoàn toàn không có sự cải biên và cách tân nào, hoàn toàn theo cổ truyền, từ nội dung, đến nhạc cụ, đến trang phục, đến cách thức biểu diễn. Người ta đến đấy như đến với di tích.
Những sáng tác của các nhạc sĩ Trần Tiến và Nguyễn Cường khai thác làn điệu và chất Tây Nguyên thật sự mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mang tính sáng tạo nền văn hóa xứ sở này. Song chớ nên để xảy ra sự nhầm lẫn giữa những sáng tác đầy tài năng ấy với những di sản đích thực, là đối tượng bảo tồn và phát huy ở dạng nguyên thủy.
Xem và nghe cách thức biểu diễn âm nhạc các dân tộc thiểu số, cách trình diễn quan họ, thậm chí Nhã nhạc Huế, tôi e ngại là chúng ta đang tạo ra những cái gì đó "lưng chừng", công chúng đang thưởng thức những cái gì đó "lưng chừng". Giữa bảo tồn và sáng tạo cần thiết lập biên giới, chí ít là để bảo tồn.
Ðể bảo toàn được tính đa dạng của sinh vật, người ta lập sách đỏ. Vì sao chúng ta chưa tính đến việc lập sách đỏ cho những báu vật của văn hóa dân tộc, cho những di tích cực kỳ hiếm hoi. Sách đỏ của những gì mà hễ đánh mất đi, hễ để cho hủy hoại đi hoặc bị làm sai lệch đi, là di sản văn hóa dân tộc bị mất đứt.
Mối liên quan giữa bảo tồn và tôn tạo thường gây nhiều băn khoăn. Tương quan giữa chúng thế nào là hợp lý? Về phương diện này, ở châu Âu từ thế kỷ 19, người ta đã có sự phân chia di tích thành hai thể loại: di tích "sống" và di tích "chết", như Lam Kinh hoặc Mỹ Sơn chẳng hạn, như đã trình bày ở trên, những hoạt động chính về trùng tu là bảo quản, là nhằm giữ gìn cho được những thành phần và đặc điểm gốc. Những hoạt động tôn tạo ở đây chủ yếu là tạo điều kiện để các di tích tồn tại lâu dài, để bộc lộ và khẳng định những đặc điểm và giá trị của chúng. Những bổ sung mới, thuộc thời ta, dù xuất phát từ những động cơ tốt đẹp, dứt khoát phải đưa ra ngoài di tích.
Hãy giữ cho di tích thuộc hẳn về quá khứ. Ở các di tích, sự chăm sóc và nâng niu của thế hệ chúng ta chính là di tích của sự ứng xử văn hóa thời đại chúng ta. Bằng lao động sáng tạo và tri thức, đến lượt chúng ta để lại di tích của thời mình cho con cháu.
Ðối với các di tích thuộc dạng "sống", tức là vẫn đang hoạt động với công năng được ban phát từ đầu thì những sự tôn tạo, những sự bổ sung là có thể. Song những gì thuộc lịch sử, có giá trị như di tích gốc, thì phải giữ cho được. Những bổ sung mới không nên làm thay đổi tính chất của di tích, mà có bổn phận thực sự "tôn tạo" nó. Ở đây, sự phát triển tiếp nối mang mầu sắc tự nhiên.
BẢO tồn, về bản chất, không mâu thuẫn với phát triển. Văn minh nhân loại là sự cộng sinh. Cộng sinh giữa thiên tạo và nhân tạo. Giữa nền văn hóa này với nền văn hóa nọ. Giữa dĩ vãng và hiện tại. Cộng sinh, phát triển tiếp nối là một tiến trình lô-gích tự nhiên không phủ định lẫn nhau.
Chúng ta coi khu phố cổ Hà Nội là di sản, coi Huế và Ðà Lạt là những đô thị di sản thì cần ứng xử với chúng như những cơ thể lịch sử - nhân văn sống động, mà phù hợp nhất là sự duy trì cho được những giá trị văn hóa - lịch sử - kiến trúc - đô thị; bên cạnh sự cải tạo, nâng cấp, chỉnh trang và hiện đại hóa phù hợp. Những nội dung trên là nhằm tạo dựng những cơ thể đô thị, những môi trường sống hài hòa, mà ở đó quá khứ và hiện tại, đô thị và thiên nhiên, con người và cộng đồng, có được sự cộng sinh bền vững.
Bảo tồn di sản văn hóa đòi hỏi ở chúng ta cái tâm, tầm nhìn, sự hiểu biết, tri thức khoa học ở tầm nhân loại và cả sự tiếp cận đích thực văn hóa. Có thể, di sản mới được bảo toàn để lưu truyền cho con cháu mai sau.